BuddhaSasana Home Page

Vietnamese, with VU-Times font (Viet-Pali Unicode)


Ân Đức Phật Pháp Tăng

Tỳ khưu Pháp Thanh


(III)

 CHƯƠNG BỐN

ÂN ĐỨC PHÁP BẢO

Phạn ngữ Dhamma được dịch là pháp hay pháp bảo. Pháp rất có nhiều ý nghĩa:

-           Ánh sáng chân lý, sự soi sáng, người mang ánh sáng tới, thể trạng, tính chất, tính tình, quy tắc, tiêu chuẩn, phép tắc, học thuyết, sự công bằng, công lý, tính ngay thẳng, sự đạo đức, sự chính đáng, phẩm chất ưu tú, đặc tính, đức tính, vật dụng, mục đích trí tuệ, hiện tượng, sự việc phi thường, người phi thường.

-           Nâng đỡ, nương nhờ, cái rập, cái khuôn, kỷ cương, luật lệ, để nương theo làm cho tốt đẹp, củng cố trí tuệ.

-           Chân lý chánh đáng, phương châm đúng đắn.

-           Lời dạy của Đức Phật.

-           Phương pháp để thực hành cho thoát khổ được vui.

-           Pháp bảo là một trong ba ngôi báu của chư thiên và nhân loại.

-           Như là sự giải phóng các quy tắc, quy luật được Đức Phật khám phá ra và công bố được bao hàm trong bốn chân lý cao thượng Tứ diệu đế.

Hay định nghĩa một cách tổng quát theo Vi diệu pháp: cái chi cũng là pháp.

I. Những đặc điểm của giáo pháp.

1. Đặc tướng của giáo pháp.

Giáo pháp của Đức Thế Tôn hội đủ bốn đặc tướng như sau:

-           Chánh pháp được bậc Đạo sư khéo thuyết giảng, khéo trình bày một cách mạch lạc trình tự, giáo pháp của Đức Thế Tôn toàn hảo đoạn đầu, toàn hảo đoạn giữa, và toàn hảo đoạn cuối. Nghĩa văn thâm mật, hàm tàng, viên cụ, bố cục chặc chẻ sáng sủa.

-           Giáo pháp có công năng đối trị phiền não một cách tương ứng, như trí tuệ đối trị si mê, từ tâm đối trị sân hận.

-           Giáo pháp có công năng dẫn lối cho người tu tập theo được thoát khỏi phiền não trong luân hồi, ngay trong đời sống hiện tại những lời dạy của Ngài là kim chỉ nam cho mọi người.

-           Giáo pháp là một đạo lộ thanh tịnh, dẫn đến cứu cánh an tịnh, đó là Níp-bàn, không một cứu cánh nào khác tương đồng với Níp-bàn về mục đích tịch tịnh trạng thái tịch tịnh. Bởi chính bậc Đạo sư đã dạy Ngoại tinh phi lạc.

Giáo pháp mà bậc Đạo sư đã giác ngộ, đã đổng triệt đã đem ra tuyên thuyết cho đời như thiện, bất thiện và vô ký, đạo quả, Níp-bàn đều là những pháp tánh những pháp giới cố hữu muôn đời đã là những quy luật công thức hiển nhiên tự bao giờ nên dù Ngài có ra đời hay không thì những ý nghĩa và trạng thái đó vẫn như thế, vẫn chỉ chừng ấy không thay đổi hay thêm bớt gì được.

Khi các đấng Như lai xuất hiện ở đời, các ngài hiểu được chúng và đem ra tuyên thuyết khai thị cho tất cả đều cùng được thấy, được hiểu như các ngài. Đối với điều nào các ngài dạy từ bo, ta nên từ bỏ, điều nào các ngài dạy phát triển, ta nên phát triển. Chư Phật chỉ dạy cho chúng ta thôi, còn việc thực hành thì chúng ta tự làm lấy, bởi trong Phật pháp không bao giờ chủ trương vấn đề tha lực không bao giờ nhìn nhận một nguồn ngoại viện siêu nhiên nào ngoài khả năng tự lực ở mỗi cá nhân con người.

2. Mục đích của giáo pháp.

Đức Phật xuất hiện trong thế gian là một tôn giáo có cũng khá lâu và số lượng giáo lý nhiều hơn tất cả các tôn giáo khác. Mục đích của Phật giáo cũng khác hơn so với những tôn giáo khác. Trong kinh Tương ương (Saṃyuttanikāya) Đức Phật dạy rằng xưa nay Như lai chỉ dạy hai điều: “SỰ KHỔSỰ DIỆT KHỔ”. Bản chất thế gian là đau khổ, khổ về vật chất, khổ về tinh thần hay nói rộng hơn là khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ có thân ngũ uẩn... Đức Phật thuyết pháp để trình bày cho thấy bản chất khổ. Thấy biết bản chất khổ chưa phải là hết, kế tiếp còn phải ý thức được nguyên nhân phát sinh khổ và thực hành các phương pháp để chấm dứt tình trạng khổ đó. Bởi thế Đức Phật dạy về sự diệt khổ.

Cho nên mục đích chính yếu của đạo Phật là giải thoát ra những đau khổ đó, chấm dứt luân hồi. Nhưng trước khi đạt đến mục đích tối thượng thì cần những mục đích đạt được.

-           Thấu triệt những bản chất khổ và hiểu rõ nội dung giáo lý, căn bản là hiểu rõ Tứ-diệu- đế, Thập-nhị-nhân-duyên và Nghiệp-báo.

-           Ý thức nguồn cội sanh ra khổ là vô minh và ái.

-           Thực hành các phương pháp để thoát khổ, từ thấp đến cao như ba pháp căn bản của người cư sĩ là: Bố thí – Trì giới và thực hành Thiền định. Khi người Phật tử tạo phước đem lại lợi ích trong kiếp hiện tại và kiếp vị lai, đó chỉ là mục đích tạm thời của đạo Phật, còn việc tu tập để đạt đến quả vị giải thoát không còn trầm luân sinh tử mới gọi là mục đích chính yếu của đạo Phật.

3. Tôn chỉ:

Tôn chỉ là những phương châm hành động hay phương châm tu tập để đạt đến mục đích. Bởi vậy, đạo Phật phải có những tôn chỉ hành động. Dựa vào lời dạy của Đức Phật có thể rút ra ba tôn chỉ tiêu biểu của Phật giáo.

-           Tự nỗ lực: Chủ trương của đạo Phật là tự mỗi người phải tu tập để tạo an vui hạnh phúc cho chính mình, tự mình nhận lấy hậu quả về các hành động thiện hay bất thiện đã gây ra chứ không do một đấng thần linh nào ban phước hoặc giáng hoạ cho ta. Mặt khác phiền não tự khổ trong tâm thì phải chính tự mình nỗ lực tu tập thì mới đoạn trừ được phiền não ấy hay bệnh phát sinh nơi người nào thì người ấy phải trị liệu không thể nhờ người khác uống thuốc mà mình hết bệnh được.

-           Hành động trí tuệ: Đạo Phật chủ trương phải hiểu biết sáng suốt trong mỗi việc làm, mỗi sự tu tập. Đức Phật không chấp nhận một hành động thiếu ý thức hay một đức tin mù quáng. Đức Phật dạy phương pháp phản tỉnh để thanh tịnh hóa tam nghiệp, khi đã làm, đang hoặc làm sẽ làm một thân hành nào đều phải dùng trí cân nhắc phân xét điểm lợi hại, tốt, xấu mới nên hành động; cùng thế ấy khi nói hay suy nghĩ một vấn đề gì đều phải phán xét kỹ càng trước khi phát ngôn hay tư tưởng. Tất cả việc làm của một vị đệ tử Phật đều phải được cân nhắc suy tư bằng trì tuệ.

-           Tự lợi lợi tha: Phật giáo chủ trương hành động lợi mình, lợi người, là việc làm nào đem lại lợi ích an lạc cho chính mình và cũng lợi ích an lạc cho chúng sinh khác; một người tự mình thực hành các thiện pháp và khuyến khích hướng dẫn người khác làm thiện.

Một Phật tử đã an trú với từ, bi, hỷ và xả, sẽ không bao giờ chấp nhận một việc làm có lợi cho mình mà hại người nhưng cũng không chấp nhận việc làm lợi người mà hại mình, càng không chấp nhận việc làm hại mình, hại người; tuy có thể làm những điều lợi mình mà không hại người.

4. Đặc điểm:

Giáo pháp cao siêu đề cập đến những chân lý và những sự kiện mà mọi người có thể trắc nghiệm và kiểm chứng xuyên qua kinh nghiệm bản thân. Phật giáo không liên quan đến những triết lý suông hay những không luận có thể chấp nhận ngày hôm nay là chân lý thâm diệu mà qua ngày sau thì bị loại bỏ như một sai lầm. Đức Phật không truyền dạy một lý thuyết triết học cách mạng, cũng không có ý sáng tạo một nền khoa học vật lý mới. Bằng những minh chứng rõ ràng không thể lầm lẫn, Đức Phật giải thích những gì ở bên trong  và ở bên ngoài ta, có liên quan đến sự giải thoát ra khỏi cảnh khổ đau của đời sống, và Ngài vạch ra con đường hay phương pháp để thực hành. Đức Phật chỉ dạy những điều mà Ngài xét thấy cần thiết để gội rửa tâm trở nên trong sạch, những điểm Ngài đã đi trước các học giả và các nhà khoa học hiện đại. Khoa học kỹ thuật, y học càng tiến bộ càng minh chứng chân lý đúng đắn mà Ngài đã thuyết giảng.

Phật giáo không đòi hỏi tín đồ một đức tin mù quáng, niềm tin mà người Phật tử đặt nơi Đức Phật như niềm tin mà bệnh nhân đặt vào một lương y trứ danh, hay của trò đặt nơi thầy. Mặc dầu tìm nương tựa nơi Đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo vô thượng, người Phật tử không chỉ quy y Tam bảo hay chỉ có đức tin suông nơi Tam bảo mà tâm người ấy có thể trở nên trong sạch. Không ai, ngay cả Đức Phật, có thể gội rữa các bợn nhơ của người khác, nói một cách chính xác, không ai có thể rửa sạch cũng như có thể làm hoen ố người khác. Đức Phật là vị tôn sư đã tìm ra và hướng dẫn những phương pháp, chính ta phải lãnh trách nhiệm gội rửa thân tâm ta. Người Phật tử hoàn toàn tự thực hiện ý chí mở mang kiến thức và phát triển trí tuệ cho đến ngày chính mình thành đạt đạo quả, bởi vì khả năng giác ngộ nằm trong chính mỗi chúng sinh. Đức Phật dạy người đi tìm chân lý không nên chấp nhận điều gì do: sợ uy quyền, theo truyền thống, theo truyền thuyết, phù hợp lập luận, thích nghi với định kiến, được nói ra từ một bậc thầy. Chỉ khi nào với trí tuệ cân nhắc sự kiện, biết đó là thiện pháp, là điều tốt, là điều khi thực hành sẽ đưa đến an lạc thì mới nên tin theo.

Phật giáo nắm vững nền tảng đau khổ, mặc dù nhấn mạnh vào hiện hữu của sự khổ, Phật giáo không phải là một giáo lý bi quan, không hoàn toàn bi quan cũng không hoàn toàn lạc quan mà thực tiển, người ta sẽ có lý do để không vạch ra con đường khắc phục và các phương pháp vượt qua nhằm thoát khổ và đạt đến hạnh phúc cao thượng. Giáo pháp là phương tiện để đưa chúng sinh vượt qua biển khổ trầm luân đến tận bờ bên kia chắc chắn và an toàn, đến nơi vô sanh bất diệt.

Trong Phật giáo không có thần linh vạn năng có quyền ban thuởng hay trừng phạt, bắt buộc tín đồ phải sợ hãi cúi đầu vâng lịnh, không có tính cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và sám truyền của thần linh từ đâu trên cao xuống đến con người, do đó, không có các nghi thức quì lạy van xin một oai lực siêu nhiên, cầm quyền thuởng phạt và kiểm soát định mạng. Phật giáo không ban hành giáo điều buộc mọi người phải chấp nhận trước khi suy nghĩ, không có hình thức hiến tế, các nghi thức dị đoan vô lý, các lễ tiết bắt buộc hay ép xác khổ hạnh.

Như vậy, một cách chính xác, không thể gọi Phật giáo là một tôn giáo bởi vì đây không phải là một hệ thống tín ngưỡng và lễ bái, cũng không có nghi lễ hành động hay hình thức biểu hiện bên ngoài, cũng không có sự hiện hữu thần linh. Người Phật tử không phiền trách Đức Phật hay một nhân vật siêu phàm hoặc người tốt phước nào về những khổ đau của nhân loại và bảo rằng Phật giáo bi quan khi nói đến sự khổ, mà hay tán dương vị ấy về những hạnh phúc mà con người đang được hưởng.

II. Tam Tạng pháp bảo.

Cách đây hơn 25 thế kỷ sau khi chứng quả vị Chánh đẳng giác, đấng Thiên nhân sư đã tích cực hoằng pháp vì lợi ích chúng sinh, Ngài tuyên bố: “Cửa bất tử rộng mở sẵn sàng đón nhận những ai hữu duyên đi đến lắng nghe và cố gắng thực hành”.

Bài pháp đầu tiên mà Đức Phật đã thuyết là con đường của sự giác ngộ.. Sau hai tháng kể từ khi thành đạo, Ngài đã du hành đến xứ Bārānasi tại thị trấn Isipatana, một khu rừng mang tên Lộc Uyển (Migādāya). Ngài tìm gặp nhóm đạo-sĩ Kiều Trần Như (Kondañña).

Đức Phật đã thuyết pháp đầu tiên cho nhóm đạo sĩ ấy. Trong nội dung thời pháp đặc biệt này, Đức Phật tuyên bố về hai điểm:

-           Con đường giải thoát là con đường trung đạo, loại bỏ hai cách thực hành cực đoan là lợi dưỡng và khổ hạnh.

-           Đề cập đến 4 chân lý mà Chư Phật đã giác ngộ tức Tứ thánh đế, gồm có chân lý về sự khổ, chân lý về nguyên nhân phát sinh sự khổ, chân lý về sự chấm dứt khổ, chân lý về con đường dan đến chấm dứt sự khổ đau. Đặc biệt Đức Phật nhấn mạnh về con đường đoạn tận khổ đau, đạo đế, con đường này là thực hành Bát chánh đạo.

Bát chánh đạo gồm 8 yếu tố: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Bát chánh đạo này chính là con đường trung đạo. Thấu hiểu lời dạy không thể lầm lẫn này tức là thấu hiểu Phật giáo, đó là giáo huấn điển hình, của chư Phật trong quá khứ, hiện tại và vị lai.

Như thế có người cho rằng Phật giáo bi quan chỉ nhìn thấy cuộc đời toàn đau khổ không hay sao? Xác nhận tính cách phổ cập của đau khổ không phải hoàn toàn phủ nhận hạnh phúc hay vui thú. Đức Phật không bao giờ phủ nhận hạnh phúc trong đời sống mà thỉnh thoảng con người có thể thọ hưởng.

Xuyên qua các giác quan, con người bị trần cảnh thu hút rồi thỏa thích trong đó, rồi bám víu để thọ hưởng khoái lạc đó, sự hiển nhiên của đời sống. Những trần cảnh mà ta mãi đeo bám cũng như thỏa thích, cả hai đều không bền vững. Nó đổi thay, luôn trở thành đó là bản chất của nó. Chúng sinh và thế gian mà chúng sinh ấy kinh nghiệm cả hai đều chuyển biến, phát sinh rồi hoại diệt, tất cả đều quay cuồng trong vòng luân hồi, không có chi vượt thoát ra khỏi trạng thái vô thường biến đổi và trạng thái ấy là đặc tính của pháp thế gian, cũng do bản chất phù du tạm bợ ấy không có chi thật sự là đáng thỏa thích. Có hạnh phúc, nhưng nó chỉ tạm thời rồi tan biến như giọt sương rơi và nhường chỗ cho sự bất toại nguyện. Hạnh phúc là trò ảo thuật, mắt vừa thấy nó vội tan vỡ, khi với tay bắt lấy nó mong manh vượt khỏi tầm tay, những ai càng đeo đuổi càng bắt lấy khổ đau.

Các kim ngôn huấn từ của bậc Đạo sư được tôn trí trọn vẹn trong Tam Tạng pháp bảo.

Buổi đầu giáo pháp được phân thành chín phần.

1.        Sutta: chỉ cho Ubhatovibhaṅga, niddesa, parivāra và những bài Phật ngôn nào mang tên Sutta, suttanta hay nói dễ hiểu hơn đây là Luật tạng và Kinh tạng.

2.        Geyya: Chỉ những bài kinh có kệ ngôn lồng vào.

3.        Veyya Karana: Chỉ cho Tạng Abhidhamma gọi là thắng pháp hay Vi diệu pháp.

4.        Gāthā: Chỉ cho Kinh pháp cú, trưởng lão tăng kệ, trưởng lão Ni kệ.

5.        Udāna: Chỉ 82 bài kệ cảm thán của bậc Đạo sư.

6.        Itivuttaka: Chỉ chi 110 bài kinh trong Khuddaka Nikāya.

7.        Jātaka: Chỉ cho 550 câu chuyện tiền thân của Đức Phật.

8.        Abbhūtadhamma: Chỉ cho các bài kinh nói về điều kỳ diệu.

9.        Vedalla: Chỉ những bài kinh có hai phần vấn đáp.

Đến khi kết tập Tam tạng lần thứ 3 các vị A xà lê xếp đặt lại phân theo tạng như:

1. Luật tạng (vinayapitaka):

Có nghĩa là quy cũ đặc biệt, hệ thống đặc thù hay cách thức thuần hóa điều dẫn thân khẩu, Tạng luật gồm có 5 bộ:

-           Mahāvibhaṅga. (Đại diện phân tích)

-           Mahāvagga (Đại phẩm)

-           Bhikkhunīvibhaṅga (Tỳ khưu ni phân tích)

-           Cullavagga (Tiểu phẩm)

-           Parivāra (Tạp sự bộ)

2. Tạng kinh (Suttantapiṭaka)

Kinh tạng được chia làm 5 bộ như sau:

-           Dīghanikāya (Trường bộ kinh) gồm 43 bài kinh dài.

-           Majjhimānikāya (Trung bộ kinh) gồm 152 bài.

-           Samyuttanikāya (Tương Ưng bộ kinh) gồm 7762 bài).

-           Aṅguttaranikāya (Tăng chi bộ kinh) gồm 9557 bài kinh.

-           Khuddakanikāya (Tiểu bộ kinh) được phân ra làm 15 phần.

3. Tạng luận hay Thắng pháp (Abhi-dhammapiṭaka)

Tạng luận hay Thắng pháp còn được gọi là Vi diệu pháp là những gì được triển khai sâu rộng từ kinh tạng. Tạng luận gồm những pháp nghĩa hàm tàm thân mật như chân thật như thật, nội dung tạng luận trình bày cặn kẽ bốn chân đế pháp: tâm, sở hữu tâm, sắc pháp và Níp-bàn. Tạng luận phân tích các loại tâm, tiến trình của tâm, sắc tức phần vật chất, tạng luận gồm 7 bộ:

1.        Dhammasaṅghani: Phân loại các pháp – Pháp tụ.

2.        Vibbhaṅga: Những tiết mục – phân biệt.

3.        Dhātukathā: Luận giải về các nguyên tố đại thuyết.

4.        Puggalā paññatti: Chỉ danh những cá tính

5.        Kathāvatthu: Những điểm tranh luận thuyết sự

6.        Yamaka: Về những cập đôi – song đối.

7.        Patthāna: Đề cập đến nhân quả tương quan.

- Tạng luật được xem là các neo vững chắc để bảo tồn con thuyền giáo hội trong những phong ba bão táp của lịch sử. Phần lớn tạng luật đề cập đến giới luật và các nghi lễ trong đời sống của hàng xuất gia. Thời gian đầu khi mới thành lập giáo hội, Đức Thế Tôn chưa ban hành luật. Về sau mỗi khi có trường hợp xảy đến, Đức Phật mới đặt ra một điều luật thích hợp. Tạng luật nêu đầy đủ các lý do tại sao và trường hợp nào Đức Phật chế định một giới, người nghiên cứu không khỏi ngạc nhiên thán phục tinh thần dân chủ trong các điều luật của giáo hội tăng già.

- Tạng kinh gồm các bài pháp mà Đức Phật giảng dạy cho hàng xuất gia và tại gia trong nhiều cơ hội khác nhau. Một vài bài giảng của các vị đại thinh văn như Xá-lợi-phất (Sārīputta) Mục-kiền-liên (Moggallāna) và Ānanda cũng được xếp vào tạng kinh do Đức Thế Tôn chấp thuận khi còn tại thế. Tạng kinh nhắm đen đời sống phạm hạnh của chư Tỳ khưu, nhiều bài khác liên quan đến sự tiến bộ vật chất và tinh thần của hàng cư sĩ tại gia. Tạng kinh chứa đựng nhiều quy tắc để học tập và thực hành.

- Tạng luận thâm diệu và quan trọng toàn thể giáo pháp, vì đây là phần triết lý cao siêu. Tạng luận là phần tinh hoa của giáo pháp, là một môn tâm lý học mà trong đó không có, không chấp nhận linh hồn. Tạng luận phân tích hai phần tinh thần, gồm các loại tâm, tiến trình của tâm, và phần vật chất là sắc cũng được đề cập đến. Nhưng ở đây không phân tích theo khoa vật lý học, mà chỉ đưa ra những mối tương quan giữa vật chất và tinh thần, hay còn gọi là sắc và danh. Dựa trên căn bản ấy, một triết lý đã được xây dựng và từ triết lý này, một hệ thống luân lý được phát triển, dẫn đến thành đạt mục tiêu tối hậu.

Giáo pháp gồm trong Tam Tạng kinh điển hàm chứa 84.000 pháp môn. Mặc dù số lượng lớn như vậy nhưng Đức Phật đã kết luận được nội dung giáo lý có ba điều.

- Không làm điều ác

- Làm các việc lành

- Thanh lọc nội tâm cho trong sạch.

III. Giáo lý tinh yếu.

1. Tứ Diệu Đế:

Giáo pháp nếu thu gọn lại chỉ nằm trong Tứ diệu đế. Tứ đế biên bố ra vạn pháp, vạn pháp tập trung trong tứ đế, vì không một điều gì ở thế gian lại nằm ngoài Tứ đế cả.

-           Khổ đế: Là hệ quả của phiền não hay sản phẩm của phiền não, ta có thể phân tích chia chẻ nêu rõ từng phương diện để hiểu biết.

-           Ngủ uẩn: Sắc uẩn gồm 28 sắc pháp, thọ uẩn, sở hữu thọ, tưởng uẩn, sở hữu tưởng, hành uẩn, các sở hữu còn lại, thức uẩn gồm 89 tâm hay 121 tâm.

-           Tứ thực: Đoàn thực, xúc thực, thức thực, tư niệm thực (hay lý tưởng thực).

-           12 Xứ: Lục căn, lục cảnh.

-           8 Pháp thế tình: Được lợi, thất lợi, được danh, mất danh, khen, chê, lạc, khổ.

-           7 Thức trú:

a)        Thân dị tưởng dị: Như nhân loại, một số chư thiên và một số đọa xứ.

b)        Thân dị tưởng đồng: Phạm thiên cõi sơ thiền và loài khổ thú.

c)        Thân đồng tưởng dị: Phạm thiên cõi quang âm.

d)        Thân đồng tưởng đồng: Phạm thiên cõi biến tịnh thiên.

e)        Tình trạng các phạm thiên cõi không vô biên.

f)          Tình trạng các phạm thiên cõi thức vô biên.

g)        Tình trạng các phạm thiên cõi vô sở hữu xứ.

-           Khổ đế: Được triển khai, diễn giải chung quy nó là pháp ứng tri, tức là cần phải quán đạt, đổng triệt.

-           Tập đế: Là các pháp cần phải sát tuyệt, đoạn trừ, tập đế là tất cả phiền não tích tập khi sinh tử, những phiền não dẫn đến luân hồi. Tập đế gồm các chi pháp:

-           Ngã chấp, mạn chấp trong ngũ uẩn như chấp ngũ uẩn là ta, ta có trong ngũ uẩn.

-           8 điều bất tri: Bất tri khổ, bất tri tập, bất tri diệt, bất tri đạo, bất tri quá khứ, bất tri vị lai, bất tri quá khứ và vị lai, bất tri lý duyên sinh.

-           Ba pháp tham ái: Dục ái là tham đắm trong dục lạc, hữu ái là lòng tham ái hướng đến sự hiện hữu, sự tồn tại, sự tham ái bị tác động do thường kiến, tham ái chấp vô do tác động của đoạn kiến.

-           Năm pháp triền cái: Là các pháp ngăn cản  không cho chúng sinh giác ngộ: a) dục dục cái: sự ham thích trong dục lạc; b) hiềm hận cái: sự oán thù; c) hôn thuỵ cái: lười biếng, dã dượi, buồn ngủ; d) trạo hồi cái: ăn năn, hối tiếc; e) hoài nghi cái: hoài nghi Phật, hoài nghi Pháp, hoài nghi Tăng.

-           Bốn pháp bộc lưu: Bốn pháp cuốn trôi cuộc đời vào vòng sanh luân lưu như: a) dục kiến bộc lưu, b) hữu ái bộc lưu, c) tà kiến bộc lưu, d) vô minh bộc lưu. Bốn pháp này còn gọi là lậu hoặc hay pháp phược.

-           Pháp tiềm thùy: Là những phiền não cố hữu tiềm tàng trong tâm của chúng sinh từ đời này sang đời khác, gồm có 7 pháp:

a)        Dục ái tiềm thùy

b)        Sân độc tiền thùy

c)        Kiến tiền thùy

d)        Nghi tiềm thùy

e)        Mạn tiềm thùy

f)          Hữu ái tiềm thùy

g)        Vô minh tiềm thùy

-           Pháp tà tánh: Gồm có 8: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà niệm, tà định.

Các phiền não trên đều xuất phát từ ba bất thiện căn là: tham căn, sân căn, si căn; mà nguồn cội chính yếu là do vô minh và ái. Tất cả các pháp nầy phải đoạn trừ.

-           Diệt đế: Là các pháp cần phải được chứng ngộ, cần phải làm cho hiển lộ. Diệt đế là kết quả của quá trình tu tập giới-định-tuệ.

-           Tâm giải thoát và tuệ giải thoát.

a)        Lối giải thoát bằng cách đối trị (tạm thời).

b)        Sự thoát ly phiền não bằng thiền định (dùng thiền áp chế).

c)        Sự giải thoát của tâm thánh đạo (vĩnh viễn đoạn trừ).

d)        Sự giải thoát của tâm thánh quả.

e)        Sự giải thoát nhờ xuất ly hoàn toàn đối với phiền não, ngũ uẩn đó là Níp-bàn.

-           Bốn pháp sa môn quả: Tu-đà-hườn quả, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả A-la-hán quả.

-           Ngủ uẩn pháp thân: Thánh giới uẩn, thánh định uẩn, thành tuệ uẩn, thánh giải thoát uẩn, thánh giải thoát tri kiến uẩn.

-           Lục thắng trí hay lục thông:

a)        Biến hóa thông hay thần biến thắng trí.

b)        Thiên nhĩ thông.

c)        Tha tâm thông.

d)        Túc mạng thông hay tiền thân trí.

e)        Thiên nhãn thông.

f)          Lậu tận thông.

-           Tuần tự pháp gồm 8 hoặc 9 bậc thiền đáo đại và bậc thiền diệt, thọ, tưởng, định.

Vô học pháp hay 10 pháp giải thoát gồm Bát Chánh Đạo và hai pháp Chánh trí và Chánh giải thoát. Đây là pháp chánh căn bản trong tâm vị Tứ-quả.

Các phương diện nêu trên được phân định tùy theo bổn hạnh và lối hành đạo của mỗi vị thánh. Đây là các pháp cần phải biết.

-           Đạo đế: Là các pháp cần phải làm do giải thoát khổ đau, để chứng ngộ Diệt đế.

- Thất tịnh:

a)        Giới tịnh

b)        Tâm tịnh

c)        Kiến tịnh

d)        Đoạn nghi tịnh

e)        Đạo phi đạo tri kiến tịnh

f)          Hành lộ tri kiến tịnh

g)        Tri kiến tịnh.

-   Bát Thánh Đạo:

a)        Chánh kiến: Trí tuệ thấy rõ bốn đế.

b)        Chánh tư duy: Gồm 3 pháp tư duy: Ly dục, vô sân, bất hại.

c)        Chánh ngữ: Chỉ cho 10 giải thoát ngữ, tránh xa khẩu ác nghiệp.

d)        Chánh nghiệp: Tránh xa các thân ác nghiệp.

e)        Chánh cần: Gồm bốn pháp: Thận cần, trừ cần, (đối với các pháp bất thiện) tu cần, bảo cần (đối với các pháp thiện).

f)          Chánh niệm: Có sự chú ý vào pháp đang xảy diễn, sự tu tập thiền Tứ-niệm-xứ.

g)        Chánh định: Tu tập bốn bậc thiền định.

Khi thực hành tròn đủ Bát thánh đạo, sẽ tạo thêm hai chi nữa là chánh trí và chánh giải thoát. Cả 4 đế là nội dung chính yếu của giáo pháp, từ 4 đế này triển khai thành 84.000 pháp môn, thu lại thì nằm trong bốn đế, nhưng không thể chia làm 3 hoặc 5 vì Tập là nhân, Khổ là quả; Đạo là nhân, Diệt là quả. Đây là cặp nhân quả để chỉ sự khổ và lạc, khổ của thế gian và lạc là sự an vui tối thượng tức Níp-bàn.

2. Vô thường khổ não và vô ngã:

“Vô thường” danh từ tưởng chừng đơn giản nhưng lại là một định luật quan trọng trong giáo lý Phật giáo, biến chuyện trở thành hay vô thường là đặc tính chính yếu của các hiện tượng trong đời sống. Tất cả vạn vật hữu tri hữu giác hay vô tri vô giác đều bị chi phối bởi vô thường, luôn thay đổi biến dịch. Thử nhìn các lượng sóng, một lượng sóng đang nhô lên cao, rồi dần dần chìm xuống giúp cho lượng kế nổi lên, lại chìm xuống, nối tiếp, nối tiếp. Hay nhìn một dòng sông đang cuồn cuộn chảy, không khi nào có một giọt nước đứng yên hay như một khoảnh khắc trước đó. Trên cành cây một chiếc lá non vừa hé, một chiếc lá đang xanh tốt, một chiếc khác đang héo úa, và vô số xác lá nằm dưới cội cây. Điểm quan trọng trong định luật vô thường, tuy sự vật thay đổi nhưng không có một lằn ranh rõ ràng, cũng không hoàn toàn tan biến hay tiêu diệt, mà chỉ chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ hình thức này sang hình thức khác đúng theo nguyên lý khoa học.

Chính vô thường làm nền tảng để phát triển đặc tướng thứ 2 là khổ não hay trạng thái bất toại nguyện, điều mong muốn không được thành tựu là khổ, hoặc những điều ta không mong mõi lắm khi xảy đến một cách đột ngột. Tất cả chúng sinh càng bị chi phối bởi các thống khổ, sanh, già, bệnh, chết, khổ của tất cả sự khổ. Đức Phật dạy nguyên nhân của mọi đau khổ xuất phát từ vô minh và ái dục, hay nói một cách khác, chính lòng tham lam, si mê là nguồn gốc mọi tranh chấp, oan trái, để rồi đem đến những lo âu, sầu muộn, bất mãn,... Đó chính là những yếu tố làm cho đời sống thoái hóa và đau khổ. Muốn vượt qua những đau khổ, không còn con đường nào khác hơn là thực hiện những phương pháp mà Đức Phật giảng dạy.

“Vô ngã” là điều mà các học giả từ Âu sang Á từ cổ chí kim khi nghiên cứu giáo lý của Đức Phật đều công nhận là điểm nổi bật nhất trong tư tưởng nhân loại. Trong khi hầu hết các tôn giáo, các nhà tư tưởng cũng như các triết gia đều chủ trương hữu ngã dưới hình thức này hay hình thức khác, Đức Phật đã đưa ra một chủ thuyết cách mạng tư tưởng bẻ gãy các bản thể luận, Ngài đã phủ nhận cái gọi là linh hồn của các tư tưởng gia Ấn độ, nhất là Bà-la-môn giáo. Ngài thẳng thắn gọi bản ngã không có thực thể tuyệt đối hay bất biến.

Trong Samyutta nikāya (Tương ưng bộ) có đoạn sau đây:

- Đại đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, đau khổ của ta là do ta tạo ra?

- Đức Phật: Không đúng như vậy, này Kassapa.

- Đại Đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, đau khổ của ta ngẩu nhiên phát khởi?

- Đức Phật: Không đúng như vậy, này Kassapa.

- Đại Đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, như vậy đau khổ không có?

- Đức Phật: Này Kassapa, ta xac nhận có đau khổ và chính ta từng kinh nghiệm đau khổ.

- Đại Đức Kassapa: Bạch Đức Thế Tôn, Ngài dạy đau khổ của ta không do ta tạo nên, không do kẻ khác tạo nên, cũng không phải ngẫu nhiên phát khởi. Một đàng Ngài xác nhận có đau khổ và chính Ngài từng kinh nghiệm đau khổ, thật bất khả tư nghì. Kính xin Đức Thế Tôn từ bi khai thị cho đệ tử.

- Đức Phật đáp: Này Kassapa. ai bảo rằng người hành động là nhận lấy kết quả tức là nói rằng đau khổ của một chúng sinh do chính chúng sinh ấy tạo ra. Đó là thường kiến. Ai bảo rằng một người hành động, một người gặt quả tức là bảo rằng đau khổ của một chúng sinh do chúng sinh khác tạo ra. Đó là đoạn kiến.

- Này Kassapa, không theo hai tiên kiến đó, Như lai chủ trương rằng: Vì bị chi phối bởi tham lam, sân hận, si mê mà nghiệp hình thành, đó là căn nguyên của sự đau khổ. Đoạn diệt được tham-sân-si tức là hủy diệt động lực hình thành của nghiệp và mọi đau khổ chấm dứt.

Đức Phật chủ trương vô ngã tức là không có nghĩa là không có cái ta, nhưng là cái ta không có thực thể vì nó biến đổi không ngừng và luôn luôn trở thành cái gì không phải là chính nó. “Không có bản ngã hay cái ta trường tồn bất biến”. Có một vài người chấp nhận rằng không có cái giả ngã, lại đi chấp vào cái gọi là “chân ngã” vì hiểu lầm rằng: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” mà Phật tánh là chân ngã thường tồn bất biến. Như vậy, vô tình họ đi từ bác bỏ đoạn kiến lại rơi vào thường kiến.

Đức Phật nhìn nhận rằng: Khi A trở thành B, B trở thành C là không thực hữu: Nhưng không bảo rằng A hoàn toàn khác B, khác C vì đó là đoạn kiến; cũng không bảo rằng A giống B, giống C hay nói cách khác A, B, C là một, không biến đổi, đó là thường kiến.

Cái ta theo đạo Phật chỉ là một sự kết hợp của ngũ uẩn tức là 5 yếu tố: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

Trong ngũ uẩn dụ, Đức Phật ví năm yếu tố cấu thành bản ngã như sau:

1.        Sắc như phù mạt: Về phương diện vật chất xác thân của con người hợp tan, tan hợp như giọt nước trôi dạt đó đây, không định hướng.

2.        Thọ như thủy bào: Những cảm giác vui khổ của thân và tâm đều bất thường, ví như những bong bóng nước.

3.        Tưởng như ảo ảnh: Tri giác giống như những cảnh giả mà người lữ hành thường thấy trong sa mạc.

4.        Hành như hương giá: Những tác động thiện ác hay duy tác đều không vững chắc, ví như cây yếu dễ uốn theo chiều gió.

5.        Thức giống như ảo thuật: Tâm thức của người biến ảo như trò quỉ thuật.

Theo Phật giáo, biến đổi của tâm nhanh 16 lần nhanh hơn sự biến đổi của một vật chất.

Ngũ uẩn hay bản ngã được tạo thành bởi những yếu tố bất định nên chính nó cũng bất định và không thực hữu vì luôn luôn dị biến. Nhưng dị biến không có nghĩa hoàn toàn đổi khác một cách ngẫu nhiên, mà biến đổi theo định luật nhân quả. B là quả của A và là nhân của C. Do đó chúng không giống nhau và cũng không hoàn toàn khác nhau mà liên hệ với nhau mật thiết. Vì A mà sinh B, vì có B mà sinh C, nếu không có A thì B, C cũng không có. “Không có cái tôi tạo nghiệp cũng không có cái tôi gặt quả chỉ có dòng nghiệp báo triền miên” (Đại đức Buddhaghosa). Động lực để vận chuyển dòng nghiệp lực ấy chính là tham-sân-si. Đó chính là nguyên nhân của mọi đau khổ. Đoạn diệt được ba nhân ấy là phá hủy động lực hình thành của nghiệp và mọi đau khổ chấm dứt.

Tóm lại, cái ta chỉ là một hiện tượng tâm vật lý, gồm hai thành phần vật chất và tinh thần, chứ không phải là bản ngã trường tồn bất biến, cũng không phải là chân ngã thường tại dù dưới hình thức “Phật tánh hữu thể hóa” như nhiều người đã lầm tưởng.

3. Định luật nghiệp báo:

Hằng ngày, ta vẫn thường nhìn thấy cuộc sống chung quanh ta và thường tự hỏi: Tại sao có hạng người sinh ra trong hoàn cảnh giàu sang quyền quý, trong cung điện nguy nga, trí tuệ xuất chúng, đạo hạnh thanh cao, khỏe mạnh sống lâu; trong khi ấy có những kẻ khác sống khổ cực lầm than, đói rách, ốm đau, khốn khổ...? Tại sao có người giàu “nứt đố đổ vách”, có người lại thiếu trước hụt sau? Tại sao có người lại thông minh tài trí, có kẻ ngu muội tối tăm? Tại sao người này sinh ra với bản tánh hiền lương, kẻ nọ lại sẵn nết hung dữ khi mới chào đời? Tại sao có hạng thần đồng thông suốt nhiều thứ tiếng hay giải được các phép toán, có hạng thần đồng khoa âm nhạc, hay hội họa..? Tại sao có những đứa bé sinh ra đã bị mù, điếc, câm, ngọng hay kỳ hình dị thể? Tại sao có những trẻ em vừa chào đời đã được hưởng mọi phước lành và có em lại bị xem như một tội khổ, tai hại?

Có chăng những nguyên nhân nhân nhất định tạo nên thế chênh lệch trong thế gian? Nếu không, những bất đồng kể trên là những sự kiện xảy ra hoàn toàn do sự may rủi. Một số tôn giáo, vài hệ thống tín ngưỡng cho rằng tất cả các sự khác biệt trong đời sống là do một nguyên nhân duy nhất, và nguyên nhân ấy là do quyết định tối cao của đấng tạo hóa. Lại không ít người cho rằng do định mạng hay số phận. Các nhà khoa học thì giải thích rằng do những nguyên nhân vật lý, hóa học hỗn hợp, do di truyền và điều kiện xã hội.

Đức Phật không nhìn nhận có một đấng tạo hóa toàn tri, toàn năng tạo ra càn khôn vũ trụ, nắm quyền sinh sát, ban thuởng hay trừng phạt, và cũng chẳng có định mệnh nào buộc con người phải khổ sở, thiếu thốn, bần cùng. Ngài giải thích: “Tất cả chúng sinh đều mang cái nghiệp của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa, hay như bóng theo hình. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sinh”. Đức Phật dạy rằng: “Này các vị Tỳ khưu, Như lai cho rằng cố ý tức là nghiệp”. Những hành động cố ý biểu hiện qua thân gọi là thân nghiệp, biểu hiện qua khẩu gọi là khẩu nghiệp, biểu hiện qua ý gọi là ý nghiệp.

Định nghĩa một cách chính xác thì nghiệp trong Phật giáo là để chỉ những hành động biểu hiện qua thân, khẩu, ý và được xác định giá trị thiện hoặc ác tùy theo kết quả của chúng.

Theo Phật giáo, định luật nghiệp báo còn gọi là định luật nhân quả của hành động thiện hay bất thiện. Nghiệp báo không có nghĩa là định mạng mà được xem như là những khuynh hướng. Theo kinh Cūlākammavibhaṅga thì thường một nghiệp nhân thiện có khuynh hướng đem đến một quả lành, một nghiệp nhân bất thiện đem đến một nghiệp quả dữ.

1. Nhiệm vụ hay chức năng của nghiệp:

Gồm có bốn phận sự:

-           Sanh nghiệp: Là nghiệp lực chi phối sự tái sinh. Thức tái sinh và sắc uẩn đầu tiên tùy thuộc vào nghiệp này. Nghiệp mà chúng sinh đã tạo ra luôn luôn có chức năng trổ quả, là thiện nghiệp thì trổ quả an vui cho chúng sinh, còn ác nghiệp thì sẽ trổ quả xấu đem lại đau khổ cho chúng sinh.

-           Trì nghiệp: Là nghiệp lực duy trì sự sinh tồn của chúng sinh từ lúc mới sinh cho đến lúc lâm chung. Nghiệp mà chúng sinh đã tạo ngoài chức năng trổ quả, còn duy trì các cảm thọ trong đời sống chúng sinh. Đối với thiện nghiệp sau khi trổ quả cho tái sinh về cõi vui (sanh nghiệp), thiện nghiệp đó duy trì tiếp tục sự an vui hạnh phúc nầy nếu không có sự trở ngại; Còn đối với ác nghiệp thì sau khi đã tạo quả dẫn tái sinh vào cõi khổ thì ác nghiệp tiếp tục duy trì nỗi bất hạnh nầy, nếu không có điều kiện cứu gở.

-           Chướng nghiệp: Là sự cản trở sanh nghiệp, nghĩa là ngoài khả năng sản sanh quả và duy trì hậu quả còn một phận sự khác là làm áp lực cản trở nghiệp đối lập, nếu là thiện nghiệp sẽ cản trở quả ác cho yếu đi, nếu là ác nghiệp thì sẽ cản trở quả thiện khiến hại lu mờ. Do đó, có trường hợp người đang khổ đau được sung sướng hạnh phúc, ngược lại, người đang hạnh phúc bổng tiêu tan nhường chỗ cho đau khổ.

-           Đoạn nghiệp: Là nghiệp lực cắt đứt sanh nghiệp, phận sự thứ tư của nghiệp là đoạn trừ nghiệp đối lập, ví như thiện nghiệp mạnh sẽ phá vỡ ác nghiệp của quá khứ, không cho trổ quả xấu; hoặc một ác nghiệp mạnh mẽ sẽ có khả năng đoạn trừ thiện nghiệp quá khứ, không cho trổ quả.

2. Năng lực hay phương thức trổ quả của nghiệp:

Có bốn:

-           Cực trọng nghiệp: Là nghiệp lực rất mạnh, có mảnh lực to lớn mạnh mẽ, nổi bật. Cực trọng nghiệp thuộc về thiện như là sự chứng đắc các tâm thiền, hắc chắn cho quả tái sinh phạm thiên sau khi mạng chung ở đây. Cực trọng nghiệp ác như phạm ngũ nghịch đại tội: giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, chích máu Phật, chia rẽ Tăng; Trọng ác nghiệp chắc chắn cho tái sinh vào địa ngục khi mạng chung.

-           Cận tử nghiệp: Là nghiệp phát khởi trong giờ phút lâm chung, nghiệp nầy do nhớ lại hành động hay lời nói lúc bình thường. Một người có thể từng làm nhiều việc thiện nhưng phút lâm chung nhớ lại một điều ác nào đó rồi sinh vào khổ cảnh. Trái lại, một người ít tạo việc lành nhưng lúc lâm chung giữ được tâm niệm lành thì được sanh vào nhàn cảnh. Tuy nhiên, những nghiệp thiện hay bất thiện vẫn còn tích trữ cho đến khi hội đủ nhân duyên sẽ phát khởi. Cận tử nghiệp nhất thời dẫn đi tái sinh nếu trong đời sống hằng ngày người ấy không tạo trọng nghiệp hay thường nghiệp.

-           Tập quán nghiệp hay thường nghiệp: Là nghiệp thường tạo tác thành thói quen, tập quán, thành tánh nết. Một người thường xuyên làm những điều lành, đó là thường nghiệp thiện. Còn một người quen làm điều ác, đó gọi là thường nghiệp ác. Thường nghiệp có khả năng dẫn đi tái sinh sau khi mạng chung nếu trong kiếp sống ấy, người nầy không tạo cực trọng nghiệp.

-           Khinh thiểu nghiệp: Tức là nghiệp có năng lực yếu ớt, là một hành động thờ ơ, khinh suất. Khinh thiểu nghiệp cũng có thiện và ác. Khinh thiểu nghiệp thiện như là một người thờ ơ bố thí đến kẻ bần cùng. Khinh thiểu nghiệp ác như là một hành động thờ ơ sát sanh.

3. Thời gian và hiệu ứng của nghiệp quả:

Nghiệp quả không phải nhất thiết là nghiệp tạo trong đời hiện tại đến đời sau hưởng quả. Theo Vi diệu pháp phân tích thì dòng tư tưởng sinh khởi sẽ xảy ra bảy sát na đổng lực tâm trong một lô trình. Mỗi giai đoạn đổng lực tâm có khả năng trổ quả theo thời gian khác nhau:

-           Hiện báo nghiệp: Sát na đổng lực tâm thứ nhất cho khả năng trổ quả ngay trong kiếp hiện tại, nếu là thiện sẽ phát sinh trổ quả an vui nội trong bảy ngày sau khi thực hiện thiện nghiệp; Nếu là ác sẽ cho quả khổ đau, nội trong bảy ngày kể từ khi sanh khởi ác nghiệp. Đây còn gọi là thiện ác quả báo nhãn tiền.

-           Sinh báo nghiệp: Là nghiệp lực đem lại hậu quả trong kiếp kế tiếp. Trong dòng đổng lực tâm sanh khởi, sát na đổng lực thứ bảy sẽ có khả năng trổ quả trong kiếp kế tiếp sau khi thân hoại mạng chung ở thế gian. Nếu là thiện nghiệp, sẽ trổ quả tái sinh ở các cõi vui. Nếu là ác nghiệp, sẽ tạo quả tái sinh vào các cõi khổ.

-           Hậu báo nghiệp: Là nghiệp lực có khả năng trổ quả từ đời thứ ba trở đi. Năm đổng lực giữa trong bảy sát na tâm có khả năng tích lũy chúng từ lâu dài sẽ phát khởi trong bất cứ kiếp sống nào khi hội đủ điều kiện.

-           Vô hiệu nghiệp: Đây không phải là một loại nghiệp nào, mà là tình trạng vô hiệu hóa của ba loại nghiệp kể trên. Nghĩa là những nghiệp đáng lý trổ quả trong hiện tại hay kiếp sống kế tiếp, nhưng không đủ điều kiện phát khởi, nên trở thành vô hiệu quả, hay trường hợp của Đức Phật và thánh A-la-hán khi viên tịch Níp-bàn thì các báo nghiệp dư sót trở thành vô hiệu nghiệp.

4. Cảnh giới:

Hay còn gọi các cõi sống, là nơi chúng sinh hiện hữu nương gá. Trên thế gian không chỉ có một hành tinh, không phải chỉ có một xã hội loài người, không phải chỉ có một nhân chủng, v.v... Sự thật trong vũ trụ có rất nhiều hành tinh. Trong thế gian có nhiều chủng loại, mỗi loại chúng sinh có cách sinh hoạt riêng.

Có hai loại cảnh giới tái sinh:

a) Cõi khổ: Là những cảnh giới cùng cực, bất an, đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn.

Cõi khổ gồm có bốn: cõi địa ngục, cõi ngạ quỉ, cõi súc sanh (bàng sanh), cõi Atula.

b) Cõi vui: Là những cảnh giới của loài hữu tình, có sự thoải mái an lạc về thân, về tâm.

Cõi vui gồm có: cõi nhân loại, cõi chư thiên dục giới, cõi chư thiên sắc giới, cõi phạm thiên vô sắc giới.

Các cõi sống mà chúng sinh nương gá luân hồi không phải là may rủi, hay ngẫu nhiên hoặc do đấng toàn quyền nào sắp đặt cho, mà chính là tùy thuộc vào nghiệp quả do chúng sinh ấy tạo ra.

Như vậy, nghiệp là một định luật nhân quả công bằng, trong đó có tự do và trách nhiệm, khác với thuyết định mệnh, cho rằng con người phải chịu số phận mà trời đã định sẳn. Họ không có quyền tự do quyết định tạo lấy cho mình một đời sống tùy theo ý chí của mình và như vậy con người không chịu trách nhiệm về mọi hành động của mình, vì trách nhiệm đó đã có trời gánh vác.

Đức Phật nêu cao nhân vị cho con người được hoàn toàn tự do và nhận lãnh trách nhiệm, sự tự do của mình, không phụ thuộc vào bất cứ một đấng thần linh nào cả. Đức Phật nâng cao nhân vị đó lên Phật vị một cách hoàn toàn bình đẳng. Nghiệp lực chỉ là một trong nhiều yếu tố chi phối đời sống hạnh phúc hay đau khổ. Con người cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào nghiệp quá khứ (nếu không hiểu rõ như thế dễ rơi vào đồng nghĩa thuyết định mệnh) mà điều kiện hạnh phúc hay đau khổ còn tùy thuộc vào:

-           Yếu tố vật lý: những biểu hiện vật chất, ảnh hưởng vật lý.

-           Yếu tố sinh lý: tức là điều kiện cấu tạo vận chuyển và và tiến hóa cơ thể, kể cả luật di truyền.

-           Yếu tố tâm lý: tức là những điều kiện nội giới, những yếu tố cấu tạo tâm, năng lực của tâm. Đieu này được phân tích trong Vi diệu pháp.

-           Yếu tố nghiệp lý: tức là lý nhân quả của hành động cố ý, như đã phân tích phần trên.

Qua đó, ta thấy rằng, đời sống con người được phối hợp bởi nhiều yếu tố, và ảnh hưởng bởi nhiều môi trường, không do quyết định của một ngoại nhân thần thánh, cũng không tự nhiên mà có. Con người cũng như tất cả vạn vật đều hình thành bởi nhiều nguyên nhân hay nhân duyên. Sự tu tập trong Phật giáo nhằm mục đích kiểm soát tâm, và sự kiểm soát này có thể thực hiện được, nhờ hiểu biết chân chánh và tư tưởng trong sạch. Luật nhân quả tác động một cách máy móc, chỉ những trường hợp nghiệp quá nặng (cực trọng nghiệp) thì con người dù muốn, cũng khó sữa đổi sự nghiêm khắc của nó được. Các trường hợp còn lại, nhờ vào chánh kiến, sự tu tập và tác ý trong sạch có thể sửa chữa phần nào tác động của nghiệp. Trường hợp này gọi là chuyển nghiệp. Nghiệp lành không thể sửa đổi hoàn toàn nhưng có thể ngăn che làm dịu bớt phần nào quả dữ. Nếu ta hiểu rõ điều kiện đã trình bày, ta có thể chế ngự thiên nhiên, chế ngự chính mình, để đạt đến tự tại. Đạo Phật nhằm giải thoát con người ra khỏi mọi ràng buộc, đưa con người đến Níp-bàn.

5. Thuyết tái sinh:

Có đời sống sau khi chết? Đây là câu hỏi được nêu lên không phải hôm nay hay hôm qua, mà đã được đặt ra từ rất lâu. Các tôn giáo xưa và nay, hoặc các hệ thống triết học đều có đề cặp đến vấn đề quan trọng này, dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Thuyết tái sinh trong Phật giáo bắt nguồn từ sự chứng ngộ của Đức Phật. Trong đêm thành đao, Đức Phật chứng đắc Túc mạng minh, đã tự mình chứng ngộ và thực chứng qui trình nhân sinh tử của Ngài và tất cả chúng sinh.

Đức Phật tuyên bố có tái sinh luân hồi, nhưng không do một đấng sáng tạo nào an bày quá trình luân hồi đó. Tuy nhiên, không phải luân hồi sinh tử không có nguyên nhân hình thành: đó là lý Thập nhị nhân duyên. Muốn biết thập nhị nhân duyên, phải hiểu được ba luân trong ba thời.

Luân là những vòng xoay, theo lý pháp y tương sinh thì có nghĩa các pháp phải liên quan dựa vào nhau mà sanh khởi, cái nầy là quả của cái trước và là nhân cho cái kế tiếp sanh khởi.

Thời gồm có quá khứ, hiện tại, vị lai.

Luân cũng có ba là phiền não luân, nghiệp luân và quả luân. Phiền não luân là yếu tố tạo nghiệp luân, nghiệp luân là nhân sanh quả luân. Ta thấy rằng phiền não luân quá khứ chi phối tạo nghiệp quá khứ, nghiệp quá khứ sanh quả hiện tại.

Phiền não luân quá khứ chính là vô minh, nghiệp luân quá khứ là hành, quả luân hiện tại chính là thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ. Tiếp theo, ta thấy phiền não luân hiện tại là ái, tạo ra nghiệp luân hiện tại chính là thủ, hữu. Quả luân vị lai chính là sanh và lão tử.

Nếu nói ngắn gọn, vòng luân hồi chính là vấn đề nhân quả tương sinh: nhân quá khứ – quả hiện tại – nhân hiện tại – quả vị lai, theo định luật thập nhị nhân duyên, đây được xem là nhân sinh tử, tái sinh.

Định luật nghiệp báo, cũng liên quan đến thuyết tái sinh. Không có đời sống nào sau khi chết hoặc sự sống nào trước khi sanh ra, mà không liên quan đến nghiệp. Nghiệp báo và tái sinh là hai định luật song hành. Nghiệp báo là hệ luận hay tiếp nối tự nhiên của tái sinh, ngược lại tái sinh là hệ luận của nghiệp báo. Cả hai phát triển, dựa trên nền tảng lý Thập nhị nhân duyên. Tất cả mọi sự vật hữu tri hữu giác, hay vô tri vô giác đều phải do nhân trợ tạo mới hiện hữu, vạn vật đều do duyên sanh. Chính hành động có tác ý trong quá khứ là nhân, tạo điều kiện để một chúng sinh tái hiện. Như vậy, trước một chúng sinh trong kiếp hiện tại, có một chúng sinh trong kiếp quá khứ. Khi một chúng sinh chấm dứt đời sống hiện tại, do năng lực của nghiệp đưa thức tái sinh hay thức nối liền đi tìm một đời sống kế tiếp.

Một bào thai được hình thành bởi ba yếu tố: tinh trùng của cha, minh châu của mẹ và một thức tái sinh. Đây là ba điều kiện quyết để cấu thành một chúng sinh ở cõi nhân loại.

Yếu tố thứ ba thức tái sinh hay thức nối liền, thức nầy xuất phát từ tiềm năng muốn sống. Ái dục cũng như bất luận tư tưởng nào khác là biểu hiện của năng lực, và như vậy không thể tan mất hoặc bị tiêu diệt. Ái dục hùng mạnh nầy, không chết theo người chết, ái dục bám víu vào kiếp sinh tồn. Ý muốn sống hình thành thức tái sinh, trong tình trạng khuấy động kinh hoàng, cố bám chặt vào đời sống, mỗi giây phút trong cơn hấp hối, chúng sinh lìa đời chớp nhoáng, gởi đi bởi nghiệp lực, thức tái sinh vào lòng mẹ, sẵn sàng thụ thai và kiếp sống mới lại bắt đầu. Ngày nào mà con người còn khát khao sống bám víu vào đời sống thế gian, vì vô minh, ái dục, và ái luyến thúc đẩy, thì cái chết không phải là điểm chấm dứt cuối cùng, mà sẽ còn tiếp tục trôi lăn trong vòng luân hồi sinh tử. Đó là tác động vô cùng tận của nhân quả, do nghiệp lực vận chuyển mãi mãi, bị bao phủ trong vô minh, dưới sức lôi cuốn của ái dục hay khát vọng. Chính ta tạo nghiệp, cũng chính ta có khả năng phá vỡ chuổi dài hình như vô cùng tận ấy. Do có phiền não nên khiến cho tác thành nghiệp nhân, do nghiệp nhân đó mà thành tựu quả tái sinh luân hồi. Đức Phật đã phát hiện được phương pháp để kết thúc luân hồi, bằng cách tận diệt động lực lôi cuốn, dập tắt vĩnh viễn ý ham muốn sống, bám víu thế gian, bằng pháp môn thiền định – Minh sát tuệ. Xuyên qua công phu thiền định, ta thấy mức tận cùng của những kiếp sống nhàm chán, lập đi lập lại, Đức Phật đã truyền dạy giáo pháp, hướng dẫn chúng sinh, vô số môn đồ đã thực hành tu tập dưới sự dẫn dắt của Ngài, đã chấm dứt luân hồi. Đó là mục tiêu cứu cánh của Phật giáo.

*

Ân Đức Pháp Bảo

1- Svākkhāto Bhagavatā Dhammo:

Pháp ấy đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng. Pháp khéo thuyết ở đây chỉ cho hai pháp: pháp học và pháp siêu thế.

-           Pháp học: Đuợc gọi là khéo thuyết, vì đó là những phần toàn hảo trọn vẹn. Toàn hảo đoạn đầu, toàn hảo đoạn giữa và toàn hảo đoạn cuối.

Gọi là toàn hảo đoạn đầu tức chỉ cho lời dẫn nhập của Phật ngôn. Toàn hảo đoạn giữa tức là pháp nghĩa được thuyết giảng nhất quán, mạch lạc, có minh họa hay ví dụ thuyết thực. Toàn hảo đoạn cuối là lối diễn đạt ấy có công năng tạo niềm tin cho người nghe.

Dù chỉ trong câu kệ ngôn, Đức Thế Tôn cũng thể hiện kỹ năng thiện thuyết một cách trác tuyệt ngay trong câu đầu tiên đã toàn hảo đoạn đầu. Trong câu thứ hai toàn hảo đoạn giữa. Trong câu thứ ba toàn hảo đoạn cuối. Pháp nghĩa trong từng câu diễn đạt súc tích, hàm tàng, nghĩa văn viên cụ, văn tự không thiếu không dư, vô cùng chính xác. Hay nói cách khác, tức là chỉ cần nghe giáo lý nầy thì người nghe đè nén được pháp cái, đè nén đang khi nghe pháp. Toàn hảo đoạn giữa nghĩa là khi hành trì theo giáo lý ấy, người ấy sẽ đạt được an lạc của chỉ và quán. Toàn hảo đoạn cuối chỉ cho cứu cánh tốt đẹp tối thượng mà người thực hành sẽ đạt được khi đã tu tập đúng mức.

-           Pháp siêu thế: Đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, vì trong giáo lý, bậc Đạo sư  nêu rõ đạo lộ hành trì tương ứng với cứu cánh Níp-bàn, cả đạo lộ và cứu cánh đều nhất quán. Thánh đạo được Đức Thế Tôn khéo thuyết là con đường trung đạo, đạo lộ trung dung, không theo thiên kiến. Các thánh quả được gọi là pháp khéo thuyết vì đó là những thành tựu nói lên sự tịnh hóa phiền não. Níp-bàn được khéo thuyết bởi nói lên sự bất hoại, thường tại. Với những khía cạnh trên, pháp siêu thế được gọi là pháp thiện thuyết.

2- Sandiṭṭhiko:

Cần được thực khán, liễu thị.

-           Thánh đạo cần được thực chứng để đọan trừ phiền não. Sự nhìn thấy một cách chính chắn, đúng theo chân tướng, cái thấy mà được chư thánh nhân nhìn nhận. Pháp nào chiến thắng phiền não bằng cái nhìn chân chính, thì được gọi là Sandiṭṭhiko, mà các pháp siêu thế chiến thắng phiền não bằng sự thực khán. Hay nói cách khác, pháp siêu thế là pháp chiến thắng phiền não bằng cái thực khác, cái nhìn chính chắn mà các bậc thánh nhân tán đồng. Một người khi đã liễu thị và chứng ngộ pháp siêu thế thì cũng đẩy lùi được nạn sinh tử bằng sự tu tập.

3- Akāliko:

Không bị gián đoạn thời gian.

-           Chỉ cho sự thành đạt quả vị của giáo pháp, không gián đoạn thời gian. Ví dụ một vị tu tập khi chứng đạt Tu-đà-hườn đạo thì tức khắc Tu-đà-hườn quả phát sinh liền theo, không có một trở lực nào có thể ngăn cản hoặc hai ba ngày sau mới trổ quả. Pháp nào trổ quả có gián đoạn thời gian thì được gọi là Kāliko như pháp thiện hiệp thế. Còn thánh đạo được gọi là Akāliko vì nó cho quả ngay tức khắc không có khoảng cách. Akāliko còn chỉ cho tâm đạo.

4- Ehipassiko:

Sẵn sàng với mọi trắc nghiệm.

-           Ở đây, 9 pháp siêu thế được gọi là những pháp sẵn sàng với mọi trắc nghiệm, bởi chúng mang tính như chân và thanh tịnh. Một món đồ giả thì không bao giờ sẵn sàng cho trắc nghiệm và thách thức trắc nghiệm. Còn pháp siêu thế thì hoàn toàn chân thật và thanh tịnh giống như viên kim cương luôn thách thức sự khảo sát trắc nghiệm.

5- Opanayiko:

Dẫn đến sự chứng đạt đạo quả.

-           Pháp cần đưa vào tâm bằng sự chứng ngộ. Hay nói cách khác, thánh đạo được gọi là Opanayiko vì nó có tính dẫn nhập Níp-bàn. Níp-bàn và thánh quả cũng được gọi là Opanayiko là các pháp cần được thể nhập bằng sự tác chứng.

6- Paccataṃ veditabbo viññūñhi:

Mỗi người tự chứng ngộ cho mình.

-           Pháp này đòi hỏi sự chứng ngộ tự bản thân, không thể là sự chứng ngộ vay mượn. Thánh đạo của thầy không thể đoạn trừ phiền não cho đệ tử, người đệ tử không thể lạc trú bằng thánh quả của thầy tế độ. Hay thầy không thể tác chứng Níp-bàn dùm cho học trò được. Cho nên pháp này được gọi là pháp mà người trí cần phải tự chứng ngộ.

Đây là những ân đức của Pháp bảo.

Những ai mong mỏi, tầm cầu chân lý hãy gạt bỏ những tranh biện về phương cách hoàn bị, cải thiện đời sống không phải công việc suy cứu, khảo sát và đem một tất đàng đến gần đích hơn. Chính mỗi hành động buông bỏ, tách rời, xa lìa những đối tượng kích thích lòng khao khát, vốn đã dẫn dắt ta đi sâu vào đêm tối của vô minh, được như thế thân tâm chúng ta đạt đến trạng thái an lạc.

Chân lý là sự thật vĩnh cửu, bất di bất dịch và không biến đổi theo thời gian. Dù chư Phật có xuất hiện hay không, chân lý ấy vẫn tồn tại và một vị Phật chỉ khám phá ra nó bằng cách trực nhận và truyền dạy lại cho chúng sinh. Đức Phật đã tự mình chứng ngộ con đường giải thoát quí báu nầy.

Đức Phật không dạy một lý thuyết suông. Ngài dạy một giáo pháp để thực hành và tinh tiến. Thông suốt giáo pháp, mà không thực hành tinh tấn, thì chẳng có lợi ích chi.

Đối với Đức Phật, không có sự hiểu biết nào có thể gọi là “Biết” mà không có hành. Hành là sự thật chứng của tri (biết). Sự toàn giác không chỉ là sáng tỏ của trí tuệ, đó là sự thực hiện trạng thái sáng tỏ, trong đó, trí tuệ tự chứng. Bởi thế Đức Phật dạy phải thực hành những điều hiểu biết. Hành đến đâu. tri đến đó. Trí tuệ thực tri từng bậc song song với sự hành. Tri và hành dựa vào nhau, cái này là điều kiện cho cái kia, cái kia là điều kiện của cái này. Đức Phật dạy những gì Ngài thực hành và Ngài thực hành những gì Ngài dạy.

Chân lý cứu cánh không thể thấu đáo chỉ bằng lý lẽ hay bằng mắt mà phải thực hiện và chứng đạt bằng trực giác. Nhưng trực giác chỉ đến với những người có ý chí nhiệt thành, công phu thiền định, giới đức viên dung, đến với kẻ nào chiến thắng nổi trận giặc tinh thần từ thiên cổ.

*

CHƯƠNG NĂM

ÂN ĐỨC TĂNG BẢO

I. Tăng là như thế nào?

Phạn ngữ Saṅgha được âm là Tăng-già hay còn gọi là Tăng.

Chư Tăng chỉ cho một tập thể gồm những vị học hỏi, thực hành và truyền thừa giáo pháp của Đức Thế Tôn. Theo kinh tạng định nghĩa, một vị đầy đủ các pháp tánh cao quí được gọi là Tăng, còn theo luật tạng thì một tập thể Tỳ khưu từ bốn vị trở lên mới được gọi là Tăng.

Tăng còn có nghĩa là “gần nhau”. Bởi vì, các bậc xuất gia dù khác nhau về quốc độ, khác nhau về chủng tộc, khác nhau về giai cấp, nhưng khi đã xuất gia nhập vào tăng đoàn thì tất cả đều giống nhau, cùng hành theo một giáo pháp, cùng có chung một giới luật.

Tăng còn có nghĩa là “người đào tan phiền não”. Bởi vì, các ngài đang thực hành phạm hạnh, cố gắng đào tận gốc rễ tham, sân, si, là nguồn cội phiền não cho thoát khỏi tâm các ngài.

Tăng có hai bậc thánh tăng và phàm tăng.

-           Thánh tăng là các ngài đã đắc đạo quả còn gọi là thánh thinh văn. Các Ngài nghe Đức Thế Tôn thuyết giảng hoặc học tập và hành trì giáo pháp rồi đạt được đạo quả.

-           Phàm tăng là phàm thinh văn, các ngài được học tập giáo lý đang thực hành phạm hạnh nhưng chưa chứng đạt đạo quả.

Tăng bảo là nhắm đến các bậc thánh tăng, các ngài chứng đạt đạo quả. Nếu kể từng đôi thì có bốn cặp thành nhân, nếu kể riêng thì gồm tám: bốn đạo, bốn quả.

Tăng là những vị “thừa Như lai sứ, hành Như lai sự”.

II. Nếp sinh hoạt của chư tăng.

1. Sự xuất gia:

Sau khi Đức Thế Tôn thuyết xong bài kinh Chuyển pháp luân thì nhóm đạo sĩ Kiều Trần Như xin xuất gia. Thế Tôn đã gọi: “Hãy đến đây! Hỡi các Tỳ khưu, chánh pháp được khéo thuyết giảng các ngươi hãy cố gắng thực hành chấm dứt khổ đau”. Sau câu nói ấy, lập tức năm vị đạo sĩ ấy trở thành năm vị Tỳ khưu, sạch nhẵn râu tóc, có đầy đủ y bát. Đây gọi là xuất gia bằng cách Ehibhikkhupasampadā. Phương pháp xuất gia nầy đối với những vị có đại duyên đã tạo trữ công đức trong quá khứ. Trong thời kỳ mở đầu cho giáo hội nhiều vị được xuất gia bằng cách nầy. Do đó, sau nầy có người muốn xuất gia, chư Tăng hướng dẫn họ đến trước mặt Đức Thế Tôn và Ngài cho xuất gia. Về sau, số lượng người muốn xuất gia khá đông, để bớt phiền hà, Đức Phật cho phép chư Tăng cho xuất gia bằng cách truyền Tam qui, người xuất gia đọc lời qui ngưỡng Tam bảo thì xem như thành tựu; Cách xuất gia nầy gọi là phép tu Tỳ khưu bằng lời qui ngưỡng Tam bảo (Tisarana Gamanūpasam-padā). Sự xuất gia của tăng chúng ngày càng mở rộng cho nhiều thành phần, nhiều giai cấp, nhiều mục đích và ngày càng phức tạp. Vì thế, Đức Phật ban hành qui luật người xuất gia phải đến xin phép trước chư tăng, ít nhất phải từ bảy vị Tỳ khưu trở lên, được sự thống nhất đồng thuận của tập thể tăng chúng, Sau đó, hai vị yết ma đọc tuyên ngôn bốn bận. Cách thọ cụ túc nầy gọi là Ñatticatuttha-kamma vācāpasampadā. Phép tu nầy còn được lưu truyền cho đến ngày nay.

2. Việc học tập tu tập:

Sự học tập của chư Tăng buổi đầu do chính Đức Phật thuyết giảng vào buổi tối, sau đó số lượng tăng đồ ngày càng đông thì vị trưởng lão và các bậc thánh A-la-hàn học thuộc Tam tạng rồi chia nhau dạy cho đồ chúng, từ đó mới được gọi là trưởng lão hay sư trưởng. Vị trưởng lao thời đó có 4 nhiệm vụ: thầy tế độ, giáo thọ sư, trụ trì và sư trưởng. Thầy tế độ, giáo thọ sư có trách nhiệm dạy dỗ học trò của mình những gì cần hiểu, cần học, cần làm. Thầy có lòng bi mẫn thương tưởng học trò như con, ngược lại, trò cũng phải tôn kính, thương yêu, vâng lời dạy bảo. Thầy tế độ có đủ thẩm quyền khiển trách, hành phạt, răn đe khi đệ tử làm quấy. Đức Phật chế định phép sám hối, phép trình bày tội lỗi, phép kết tội và phép giải tội. Các vị đại trưởng lão thường hay đến thỉnh ý Đức Thế Tôn, khi nhập hạ, ra hạ hay những dịp cần thiết, thuận tiện. Đức Phật cũng thường xuyên đi đến các nơi có tăng chúng để giáo giới, nhắc nhở hay giải quyết những vướng mắc, bất đồng trong chư tăng.

Khi Đức Phật còn tại thế thì việc truyền thừa Phật pháp ít bị sai lệch do chư thánh tăng rất đông và có Đức Thế Tôn kịp thời chấn chỉnh những sai lệch. Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, sự truyền thừa Phật pháp bắt đầu có sự lệch lạc, nên các ngài thánh tăng mở các kỳ kết tập Tam tạng để củng cố giáo pháp, loại bỏ những tri kiến sai lệch.

3. Sinh hoạt của chư Tăng:

Buổi đầu khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì chư Tăng thời ấy thực hiện hằng ngày ba việc làm: học, tu, và hoằng pháp. Về sau số lượng chư Tăng đông đảo thì công việc càng lúc càng nhiều hơn, như việc xây cất và bảo quản tăng xá. Cho nên cần phải cắt cử một vị đứng ra điều hành các công việc.

Sự sinh hoạt của chư Tăng dựa trên tinh thần dân chủ, bất cứ việc gì cũng đòi hỏi sự thống nhất của tập thể hay ý kiến đa số của tăng chúng.

Khi có bạn đồng tu nào vi phạm hay làm điều gì sai trái, vị ấy sẽ được nhắc nhở riêng, và nếu vị đó không chịu sửa đổi thì sẽ được trình ra trước tăng chúng, trên quan điểm cùng nhau tôn trọng giới luật và giáo pháp.

Nhờ tinh thần tự giác ở mỗi cá nhân và tinh thần dân chủ trong tập thể, giáo hội tăng già vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, dưới hình thức một đoàn thể tu sĩ độc thân xưa nhất trong lịch sử nhân loại.

*

Ân Đức Tăng Bảo:

1. Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho:

Người khéo hành trì. Chư thánh tăng được gọi là những vị khéo hành trì vì các ngài đã tu tập đúng lý pháp, thuận lý pháp và xuôi dòng với lý pháp. Đạo lộ mà các ngài hành trì là một đạo lộ đúng đắn, chính chắn, đúng theo phận sự và phương pháp trau dồi phạm hạnh để trở nên các bậc thánh mà Đức Phật đã truyền dạy.

2. Ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho:

Người đi trực chỉ. Chư thánh Tăng được gọi là những vị trực hành vì đạo lộ các ngài thực hành không thiên lệch hay cực đoan, các ngài đi đúng con đường trung đạo, đúng chánh pháp để đạt được sự giải thoát.

3. Nāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅngho:

Người hành trì để liễu tri. Các Ngài thực hành với mục đích liễu tri, tỏ ngộ Níp-bàn là nơi an lạc tịch tịnh tuyệt đối, thoát khỏi sinh tử.

4. Sāmīcipaṭipanno  bhagavato sāvakasaṅgho:

Đoan chánh hành. Chư thánh tăng là những vị hành trì đạo lộ cực kỳ chín chắn của một vị thánh đệ tử.

5. Yadidaṃ cattāri purisayugāni:

Chư thánh tăng nếu kể đôi thì có bốn cặp, mỗi cặp là một tầng đạo quả, hay gọi là bốn cặp thánh nhân.

6. Aṭṭha purisapuggalā:

Nếu kể riêng, thì có bốn đạo và bốn quả hay gọi là tám tầng thánh vức

Chúng ta nên hiểu rằng các bậc thánh nhân là người hành trì đúng đắn, vì con đường các ngài đang đi là đạo lộ đúng đắn nhất. Khi các ngài đạt được đạo là giai đoạn hoàn chỉnh hóa sẵn rồi và kế tiếp đạt quả, khi nào đạt được đạo thì đắc quả ngay liền không chậm trễ.

7. Esa bhagavato sāvakasaṅgho:

Các bậc thinh văn khi đạt được các tầng thánh từ Tu-đà-hườn trở lên thì được gọi là các vị “thánh đệ tử”, hay Đức Thế Tôn xác nhận là “con của Như lai” vì các ngài không bao giờ còn theo ngoại đạo và tà kiến. Chắc chắn các ngài đi đến nơi giải thoát.

8. Āhuṇeyyo:

Chư thánh tăng xứng đáng với những lễ vật mà thí chủ từ xa mang tới để dâng cúng cho những người có giới hạnh. Các thánh đệ tử của Đức Thế Tôn là những vị xứng đáng thọ lãnh những lễ vật đó, xứng đáng với sự cúng dường đem từ xa lại.

9. Pāhuṇeyyo:

Chư thinh văn là những vị xứng đáng với những quà cáo để biếu, tặng cho bạn bè, thân quyến với tấm lòng ưu ái, bởi các ngài chỉ xuất hiện vào thời kỳ chỉ có bậc Chánh đẳng giác mà thôi. Không có một ai xứng đáng hơn các ngài.

10. Dakkhiṇeyyo:

Các ngài xứng đáng thọ lãnh bốn món vật dụng của thí chủ đã hiểu biết giáo pháp, tin vào nghiệp báo, nhân quả phát tâm trong sạch cúng dường đến các ngài, sự bố thí ấy là nhân tạo phước trong kiếp vị lai, và các thí chủ có thể hồi hướng phước báu đến thân bằng quyến thuộc của mình còn tại tiền hay đã quá vãng.

11. Añjalikaranīyo:

Sự tu tập chân chính, giới hạnh trang nghiêm xứng đáng cho chúng sinh lễ bái và học tập thực hành theo.

12. Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti:

Chư thánh tăng là ruộng phước tối thượng để chúng sinh gieo trồng công đức, các ngài là mảnh đất vô cùng màu mỡ để tạo phước to lớn. Ví như người nông dân, khi muốn gieo giống thì phải tìm những thửa ruộng màu mỡ để canh tác, thì mới đem lại sự dồi dào sung túc. Miếng ruộng ấy phải có những tiêu chuẩn.

-           Ruộng không gò hoặc không trũng và bằng phẳng.

-           Không có đá, sạn.

-           Đất không mặn, không phèn.

-           Không có cỏ dại.

-           Có nhiều chất phân, màu mỡ phì nhiêu.

-           Không có sự tai hại như sâu, bọ, các loài thú.

-           Có đường dẫn nước thuận tiện.

-           Có bờ đắp chắc chắn.

Tám chi ấy phù hợp với tám chi của bậc thinh văn có đạo hạnh và trí tuệ sẽ đem lại lợi ích cho thí chủ. Chư Tăng là thinh văn hằng có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Ngoài tám chi ấy vị thánh đệ tử có năm đức tánh:

1.        Thích nghe pháp, học hỏi, tìm hiểu Tam-tạng.

2.        Biết tận diệt ba tà tư duy: tình dục ngũ trần, thù oán, não hại.

3.        Biết thu thúc lục căn thanh tịnh.

4.        Biết nhẫn nại trong mọi công việc nhất là sự lạnh, sự nóng.

5.        Là người trực chỉ Níp-bàn là nơi có ít người đến.

Tất cả những ân đức kể trên tóm lại chỉ có hai đức tính là: từ ân đức thứ nhứt đến thứ bảy là lợi ích cho chính bản thân, từ ân đức thứ tám đến ân đức thứ mười hai là lợi ích cho thí chủ.

Được mệnh danh là những “sứ giả Như lai” vì ánh sáng chân lý đã được các ngài truyền bá ở khắp mọi nơi từ thành thị đến thôn quê. Bất cứ nơi đâu, khi có bước chân các ngài là nơi ấy được an vui và đức tin Tam bảo càng được mở rộng. Với tôn chỉ “tự giác, giác tha”, các ngài vừa tự tu, tự rèn, vừa giúp đời sửa đổi những thói hư tật xấu, xa lìa những điều ác, làm những việc lành. Đạo hạnh trang nghiêm, trí tuệ sáng suốt, chứa đựng tứ vô lượng tâm, lục căn thanh tịnh, các ngài là tấm gương sáng cho tất cả chúng sinh học tập và hành theo.

Các bậc thánh tăng xứng đáng với sự lễ bái cúng dường của tất cả chúng sinh, là ruộng phước quí báu cho chư thiên và nhân loại. Các bậc phàm tăng là những người đang thực hành Bát chánh đạo, có đầy đủ sự tinh tấn, giới hạnh thanh cao, và xứng đáng cho thiện nam, tín nữ hộ độ, cúng dường.

Đức Phật không khuyên tất cả mọi người nên rời bỏ đời sống gia đình để đắp y mang bát trở thành tu sĩ không nhà cửa, không tài sản. Một người cư sĩ có đời sống cao đẹp, kiên cố vững chắc trong giáo pháp, thực hành trọn vẹn Bát chánh đạo vẫn đạt được thành quả.

Một điều mà hàng Phật tử nên biết rằng chư Tăng Phật giáo không phải là những tu sĩ trung gian để hành lễ hay cử hành những nghi thức cúng tế, không ban phước lành và cũng không rửa tội cho một ai. Một vị Tỳ khưu không đứng làm trung gian giữa con người và quyền lực siêu nhiên, bởi Phật giáo chủ trương mỗi cá nhân, dù xuất gia hay tại  gia, phải tự đảm nhận sự thành đạt giải thoát cho chính mình. Do đó, không nên có ý cầu cạnh ân huệ của một tu sĩ trung gian. Hạnh phúc cao thượng nhất chỉ có thể đến do tự mình thức tỉnh và lãnh hội chân lý. Đức Thế Tôn và chư Tăng là những vị thầy, là những tấm gương sáng, giáo pháp là phương tiện. Ta phải tự gia công cố gắng phá vỡ xiềng xích đã trói chặt ta từ thuở nào và thoát đến tự do, vượt ra khỏi các phiền não bằng cách kiên trì, tận lực, chuyên cần; chứ không nên nương nhờ trung gian của một ai khác.

*

CHƯƠNG SÁU

Đức Phật xuất hiện trên thế gian để truyền dạy cho tất cả những ai muốn tìm chân lý, thực tướng của đời sống và con đường duy nhất để thoát khỏi mọi phiền não khổ đau của kiếp nhân sinh. Trên đường hoằng pháp, Ngài đã thực hành sứ mang cao quý hết sức vẻ vang. Ngài đã truyền tất cả những điều cần thiết cho những ai muốn cố gắng theo dấu chân Ngài, cả hai bậc xuất gia và tại gia. Ở đây, Đức Phật đặc biệt chú trọng việc gia công thực hành của mọi cá nhân để đạt mục tiêu tối hậu là tự thanh lọc và giải thoát ra khỏi mọi phiền não khổ đau của đời sống. Cầu khẩn, van xin hay lệ thuộc vào người khác thì không có hiệu quả.

Tôn giáo là điều mà con người phải đến gần bằng lý luận và suy tư. Nếu sau khi nghiên cứu tận tường, lời dạy nào nhận thấy thuận với tâm lý ta và khi đem thực hành đưa đến sự lợi ích thì hãy chấp nhận những nguyên tắc đó vào lối sống chính mình. Cố gắng theo một tín ngưỡng mà không có lý do để mình thoả mãn với tín ngưỡng ấy quả thật là điên rồ. Ta phải ngay thẳng, phải thành thật với chính ta và với kẻ khác. Tự phỉnh gạt mình để đến với xung đột tâm lý là bất hạnh. Trong sự lựa chọn tôn giáo, không ai có quyền dẫm chân lên sự tự do của người khác. Tự do tín ngưỡng là quyền của mọi người. Cưỡng bách, mua chuộc một người phải theo tín ngưỡng mà người ấy không thích là loại cưỡng bách đen tối nhất. Bắt buộc người ta phải nuốt những gì mà họ không thích, như vậy không thể là tốt đẹp cho bất cứ ai, bất cứ ở đâu. Mọi ép buộc nhằm khép tư tưởng vào khuôn khổ nhất định, là trực tiếp xen vào sự mở rộng tâm trí của người khác. Người Phật tử xem sự dẫm chân như thế gọi là loại hẹp hòi tồi tệ nhất.

Cưỡng bách, cuồng tín, ngược đãi không thể có trong Phật giáo. Trải qua hơn hai ngàn trăm năm dài đăng đẳng, đức tính từ bi và ôn hòa, không một giọt máu bị đổ vì danh nghĩa của Đức Phật. Không có một ông vua hùng dũng nào đã tung kiếm, múa gươm để truyền bá Phật pháp và cũng chẳng có sự hỗ trợ của thế lực của chủ nghĩa đế quốc quân phiệt hay một phương tiện gián tiếp để đưa người vào Phật giáo. Phật giáo mở rộng và càng lan tỏa trên khắp thế gian, đang ôn hòa đi vào các quốc gia mà không hề gây bất cứ cuộc xung đột nào, chính vì giá trị cố hữu và tính cách cao đẹp của giáo pháp. Dưới danh nghĩa Phật giáo chưa hề có nơi thiêng liêng nào bị máu của người vô tội làm hoen ố, không có tư tưởng gia chân chánh nào bị thiêu sống và không bao giờ có sự thiêu đốt, giết chóc tàn nhẫn nào đối với những người khác đạo.

Nhiệm vụ bảo tồn chánh pháp và hoằng hóa giáo pháp không chỉ dành riêng cho chư Tăng, các bậc xuất gia, mà hàng cư sĩ tại gia cũng là một bộ phận nòng cốt trong nhiệm vụ thiêng liêng cao quí này. Trong thời kỳ đầu của Phật giáo, hàng tại gia cư sĩ cũng có số thánh cư sĩ khá đông, có đức tin vững chắc nơi Tam bảo. Ngoài công việc mưu sinh hằng ngày, các vị cư sĩ cũng đã đóng góp tích cực cho công việc hoằng pháp của Đức Phật và có vai trò hướng dẫn người khác tìm hiểu giáo pháp hay để tu tập. Trong hàng cư sĩ tại gia cũng có những pháp sư lỗi lạc như cư sĩ Citta, tín nữ Khujjuttarā, v.v... Cũng có những cư sĩ là nhà đại hảo tâm như trưởng giả Cấp-cô-độc và đại thí chủ Visākhā đã đem tài sản chuẩn bần cứu tế cho dân nghèo, đói khát, ốm  đau bệnh tật.

Đối với hàng cư sĩ, việc tu tập chủ yếu dựa vào tinh thần tự nguyện tự giác, những gì được bậc Đạo sư ban hành cho người cư sĩ là những lời nhắc nhở khuyên nhũ, hơn là cấm đoán khắt khe. Đức Phật và chư Tăng chỉ thuyết giảng cho thấy nhân xấu đưa đến quả tai hại. Những nhân lành đưa đến lợi ích an vui. Phần thực hành thì tùy vào căn cơ, điều kiện, mỗi hoàn cảnh của mỗi cá nhân mà tự lựa chọn thực hành các phương pháp phù hợp với bản thân. Thường thì người cư sĩ thuần thành trong Phật giáo có năm tiêu chuẩn là:

1.        Có đức tin vững chắc nơi Tam bảo.

2.        Có giới hạnh trong sạch, thực hành thập thiện nghiệp.

3.        Có niềm tin vào nhân quả, không mê tín dị đoan, tà kiến.

4.        Không tôn thờ ngoại giáo.

5.        Luôn dành ưu tiên, đặc biệt cho Tam bảo.

Các tiêu chuẩn trên chỉ cần người cư sĩ có đức tin trong sạch đối với Tam bảo là có thể thực hiện tốt. Thông thường, khả năng lãnh hội của cư sĩ mỗi người đều khác nhau, có người thì vững chắc mạnh mẽ, có kẻ lại hời hợt, có người tin vì thấy được lợi ích. Có người tin vì bạn bè, thân quyến tin thì tin theo.

Đối với những tín đồ ngoại giáo đến qui ngưỡng Phật giáo, đôi khi, họ muốn hộ độ cho thầy cũ của mình. Đức Phật dạy: “Như lai và chư Tăng không bao giờ ham muốn có giáo đồ. Như lai chỉ ban rãi đến chúng sinh những luồng pháp vũ, ai có trí tuệ và tín tâm, sẽ đón nhận những giọt nước cam lồ đó, cũng chính nhờ lòng ái mộ giáo pháp những người ấy đạt được nhiều lợi lạc”. Nó như một dòng suối, chúng sinh có thể giải khát hay tắm mát, Phật giáo nhắm đến lợi ích cho đời, vì mục đích tiếp độ cho đời một cách vô tư và thánh thiện.

Người Phật tử đảnh lễ kim thân Đức Phật, bảo tháp Xá lợi và cây Bồ đề là để bày tỏ lòng tôn kính ngưỡng mộ lý tưởng cao đẹp. Khi thắp nén hương, dâng cành hoa là biểu hiễn lòng tri ân vô hạn, và người Phật tử suy ngẫm về những hồng danh, các ân đức cao quí. Người Phật tử cảm tưởng như đang được tôn kính trước mặt đức Từ phụ. Nhờ đó, đức tin càng vững chắc và mọi người noi gương lành của Ngài mà thực hành theo.

-ooOoo-

Đầu trang | Phần I | Phần II | Phần III

Chân thành cám ơn đạo hữu Huyền Thanh đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 09-2006).


[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 10-10-2006