| BuddhaSasana Home Page |
Vietnamese, with VU-Times font (Viet-Pali Unicode) |
![]() |
Ân Đức Phật Pháp Tăng Tỳ khưu Pháp Thanh |
|
(II) ÂN ĐỨC PHẬT BẢO A. Mười hồng danh cao quí: 1- Arahaṃ – Ứng cúng: - Bậc đã xa lìa quân thù: Vì Ngài đã xa lìa tất cả phiền não và ái dục, là những nguyên nhân thường làm cho tâm bợn nhơ và dẫn dắt chúng sinh chìm đắm trong vòng sinh tử luân hồi, Ngài đã tận trừ bằng thánh đạo và thắng trí, Ngài cũng dứt trừ các tiền khiên tật. - Bậc đã phá tan: Ngài đã dùng ánh sáng trí tuệ phá tan vô minh khi thành tựu túc mạng thông, và phá tan luân hồi khi thành tựu sinh tử thông. Sau khi thành đạo, Ngài đã quán xét tường tận về Thập nhị nhân duyên, xem theo chiều phát sinh: sự không liễu tri Tứ đế được gọi là vô minh, vô minh là nguồn gốc cho hành phát sinh, do hành có thức, do thức có danh sắc, v.v... do cái nầy có để làm nhân sanh cái kia. Có thể dùng thí du cái bánh xe cho dễ hiểu: vô minh ví như cái đùm xe – ổ trục; hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh là 10 căm xe, lão tử là niền xe – vành xe. Tất cả những món phụ tùng ấy được ghép vào cổ xe tam giới trôi lăn đi từ vô thủy luân hồi, bánh xe ấy có vô minh là đùm, là nơi nương gá cứ điểm căn cội của 10 duyên sinh kia, 10 duyên sinh là những cây căm lấy chung điểm tối hậu là lão tử ví như niền xe. Đức Thế Tôn đã thông đạt thấu triệt nguyên lý duyên sinh (theo chiều phát sinh) qua bốn đại lược ba thời, ba hệ trục và 20 chi (không kể sanh, lão tử của trục hiện tại và vị lai). Bậc Đạo sư đã như thật chứng ngộ các pháp duyên sinh nầy. Ngài nhàm chán khước từ chúng và dùng trí tuệ hủy diệt năng lực của vòng sinh tử. Nói cách khác, Ngài đã dùng gươm trí tuệ phá nát các căn của vòng sinh tử luân, nên được các bậc thức giả xưng tụng là bậc A-la-hán.
Bậc Xứng Đáng: - Được cúng dường: Ngài là bậc toàn trí, toàn thiện, rất xứng đáng cho chư thiên và nhân loại lễ bái cúng dường. Ngài là bậc tối thượng hơn bất cứ chúng sinh nào trong tam giới. - Giáo hóa: Ngài là bậc đã thoát khỏi thế gian và Ngài có đủ khả năng giảng dạy, giáo hóa cho tất cả chúng sinh hữu duyên, đem đến sự an vui ngay hiện tại và tương lai. - Bậc không có ác lấp: Hạng phàm nhân, thiển trí thường cho rằng mình là người có trí, khi làm những điều sái quấy thường làm ở nơi kín đáo, vắng vẻ vì sợ tai tiếng. Đối với bậc đạo sư thì dù ở đâu, bất cứ nơi nào, Ngài cũng không bao giờ nói, làm, thậm chí nghĩ sai quấy dù nhỏ nhen nhất Bậc Vô Sanh: Ngài đã đoạn tận các phiền não lậu hoặc, đã diêt tận năng lực tái sinh nên dược xưng tụng là bậc đã vượt khỏi tam giới, không còn tái sinh được nữa. 2. Sammasambuddho - Chánh biến tri: Samma: Thông suốt các pháp tường tận, rõ ràng chơn chánh. Sanam: Tự mình nỗ lực tìm tòi không có thầy hướng dẫn chỉ dạy. Buddho: Bậc hoàn toàn giác ngộ. Trong quá trình giác ngộ của đức bồ tát khi lậu tận trí phát sinh có nghĩa là Ngài giác ngộ Tứ diệu đế, trải qua ba giai đoạn (ba luân): - Trí hiểu biết sự thật: Đây là khổ đế, đây là tập đế, đây là diệt đế, đây là đạo đế. Như thật trí phát sinh biết rõ đây là khổ, đây là tập khổ, đây là diệt khổ, đây là đạo lộ diệt khổ. Giai đoạn này gọi là Saccañāna. - Trí hiểu biết tác dụng của Tứ đế: Tác dụng trí phát sinh Ngài biết rõ sở dụng trong Tứ đế như: khổ đế cần phải biết, tập đế cần phải trừ, diệt đế cần phải chứng đạt, đạo đế cần phải tu tập. Giai đoạn này gọi là Kiccañāna. - Thực chứng trí phát sinh: Ngài nhận định rõ khổ đế ta đã liễu tri, tập đế ta đã đoạn trừ, diệt đế ta đã đắc thành, đạo đế ta đã tu tập viên mãn. Giai đoạn này ta gọi là Kataññāna. Khi tuệ chứng ngộ Tứ đế theo ba luân, 12 thể phát sinh đến Đức Cố-đàm khi nào thì khi ấy Ngài được gọi là Sammāsambuddho - Chánh đẳng giác, Chánh biến tri, tức đạo quả toàn giác hay là một vị Phật. Cũng đồng nghĩa: Sabbaññū: Đấng Toàn tri. Đức Phật đã tự nỗ lực tìm ra, hiểu biết tường tận chân lý cao thượng là Tứ diệu đế và Ngài có khả năng giảng giải bốn chân lý ấy cho tất cả chúng sinh tu tập, thực hành theo để thoát khỏi sự khổ trong vòng luân hồi hầu đạt được lợi ích cao thượng. 3. Vijjācaranasampanno – Minh hạnh túc. Đức Thế Tôn được xưng là bậc Minh hạnh túc do Ngài đã tu tập tròn đủ và viên mãn về trí tuệ và đức hạnh. - Trí Tuệ: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tu tập theo hạnh trí tuệ, nên từ khi còn là vị Bồ tát, Ngài luôn luôn thiết tha mong cầu được nghe pháp, hay học hỏi giáo pháp, nơi nào có bậc thiện trí thức thì Ngài thường tìm đến. Khi thực hành pháp độ trí tuệ, Ngài luôn trau giồi trí tuệ theo phương pháp quan sát, thẩm xét mọi tình huống xảy ra sau đó tìm hiểu và làm sáng tỏ bằng cách suy luận với lý nhân quả. Mặt khác, Ngài cũng nổ lực để thành tựu trí tuệ trong thiền định. Đang lúc trau dồi trí tuệ, dù phải mất mát tài sản, hy sinh tứ chi, thậm chí dù phải hy sinh mạng sống, Ngài vẫn không từ nan. Ngài thực hành tròn đủ các pháp độ chỉ vì muốn chứng ngộ chơn tướng của vạn pháp, để diệt tận phiền não nội tâm cũng như tìm ra con đường giải thoát, xuất ly khỏi tam giới. Đêm thành đạo dưới cội Bồ-đề, Ngài chứng đạt đạo quả Toàn giác do đã tu tập trí tuệ viên mãn. Đối với Đức Phật, không có bất cứ sự trở ngại nào về tri thức, từ pháp hiệp thế đến pháp siêu thế, từ chuyện quá khứ đến tương lai, từ cảnh giới nhân loại đến tất cả các cảnh giới khác đều không thể vượt qua sự hiểu biết của Ngài. Minh hoặc Thông là sự hiểu biết một cách tường tận, có thể là ba, sáu hoặc tám minh. Thông còn được gọi là Giác. Nếu kể là tam minh thì gồm có: Túc mạng minh, Sinh tử minh hay Thiên nhãn minh và Lậu tận minh. Nếu là lục thông (6 cái minh) thì kể thêm: Thần thông minh, Tha tâm minh, và Thiên nhĩ minh. Còn 8 cái giác thì kể thêm: Minh sát minh và Hóa tâm minh. Dưới đây là kể theo trình tự bát minh đồng nghĩa 8 cái giác. 1. Minh sát minh: Sau khi cảm thắng được ma vương, Ngài dùng phương pháp suy niệm hơi thở cho tâm an trụ lắng dịu đạt đươc ngũ thiền và thần thông. Sau đó, Ngài dùng pháp minh sát sự chuyển động của hơi thở ra vào để thấy rõ vô thường, khổ não và vô ngã. Khi đã tìm thấy nguồn cội của sự khổ và phương pháp diệt tận sự khổ Ngài đoạn trừ ba hạ phần kiết sử; thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, đạt Tu-đà-hườn đạo tuệ. Ngài tiếp tục diệt hai kiết sử nầy ở giai đoạn vi tế, đạt được A-na-hàm đạo tuệ. Kế tiếp, Ngài diệt trừ năm kiết sử còn lại, ái sắc, ái vô sắc, ngã mạn, phóng tâm và vô minh thân tâm, Ngài hoàn toàn trong sạch, đạt A-la-hán đạo tuệ và A-la-hán quả phát sinh, đồng thời bảy cái giác cũng tuần tự phát sinh tròn đủ trong tâm Ngài. 2. Túc-mạng minh: Vào canh đầu của đêm, Ngài chứng đạt các bậc thiền, thành tựu Túc mạng minh, nhớ biết được các tiền kiếp, đời sống quá khứ của Ngài và chúng sinh. Đức Phật có thể nhớ biết rõ kiếp quá khứ của Ngài và tất cả chúng sinh từ một kiếp cho đến vô số kiếp. 3. Sanh tử minh: Tuệ này Ngài đạt vào canh giữa của đêm. Ngài biết được sự sống chết luân hồi của chúng sinh, do duyên nghiệp gì mà chúng sinh được hạnh phúc hay đau khổ, sang hèn, do hạn nghiệp gì mà chúng sinh tái sinh vào loài ấy hay sống trong tình trạng ấy. 4. Lậu tận minh: Tuệ này Ngài chứng đạt vào canh cuối, là tuệ biết rõ các pháp làm tâm bợn nhơ, trầm luân trong vòng sinh tử và các pháp diệt tận để thoát khỏi luân hồi. 5. Hóa tâm minh: Có thể dùng thần lực để rút tâm mình ra khỏi thân xác, ví như thanh kiếm rút ra khỏi vỏ. 6. Thần thông minh: Năng lực biến hóa một ra nhiều, vật này thành vật khác. 7. Thiên nhĩ minh: Có thể nghe được tiếng trời, người, thú dử gần hay xa. 8. Tha tâm-minh: Là tuệ hiểu biết được ý tưởng, hoặc tâm thức của chúng sinh khác. Ngoài cái tám cái giác kể trên, Ngài còn sáu thắng trí của bậc Chánh đẳng Chánh giác. - Quyền thắng trí - Tùy miên định trí - Sang thông trí - Đại bi định trí - Toàn giác trí - Vô chướng ngại trí. - Đức hạnh: Ngài thông hiểu các pháp tu tập, để trở thành bậc phạm hạnh mà chính Ngài thực hành và giảng giải cho người khác thực hành theo. 1. Thu thúc giới hạnh tinh nghiêm. 2. Thu thúc lục căn cho thanh tịnh. 3. Tiết độ trong vật thực. 4. Luôn luôn tỉnh giác. 5. Có đức tin chơn chánh. 6. Có sự ghi nhớ chơn chánh. 7. Hỗ thẹn tội lỗi. 8. Ghê sợ tội lỗi. 9. Nghe nhiều học rộng. 10. Có đầy đủ sự tinh tấn. 11. Hiểu rõ ba thật tướng vô thường, khổ não, vô ngã để nhàm chán thế gian. 12. Hành theo sơ thiền. 13. Hành theo nhị thiền. 14. Hành cho đắc tam thiền. 15. Hành cho đắc tứ thiền. Đức Thế Tôn là bậc đã tròn đủ trí tuệ và đức hạnh, trí tuệ là tiêu chuẩn khẳng định Toàn giác tuệ của bậc Đạo sư và đức hạnh khẳng định lòng đại bi của Ngài. Đức Thế Tôn hiểu rõ những điều lợi ích và không lợi ích, và Ngài chọn lấy những điều lợi ích để hướng dẫn. Do nhờ 8 cái giác và 15 cái hạnh mà hàng tứ chúng môn đồ của Ngài được dẫn dắt chu đáo trên đường chơn chánh, xa lìa những con đường sai lầm như tà kiến, lợi dưỡng hay khổ hạnh. 4. Sugato: Thiện thệ. A. Có hành trình toàn hảo: - Sắc chan hòa: Ngài có 32 tướng tốt của bậc thánh nhân, diện mạo quang minh, hào quang rực rỡ. - Pháp chan hòa: Các pháp Ngài tỏ ngộ thật vi diệu và thậm thâm, đúng chân lý các bậc thiện trí khác không thể sánh bằng. - Thinh chan hòa: Tiếng nói của Ngài có 8 đặc điểm. 1. Lưu loát 2. Dễ hiểu 3. Dịu dàng 4. Nghe rõ ràng 5. Sung mãn 6. Thâm sâu 7. Phân minh 8. Vang động. - Tâm vui thích bình đẳng chan hòa: Ngài có tâm bình đẳng, thí chủ là bậc vua chúa hoặc thứ dân, người giàu sang kẻ bần cùng khi dâng cúng đến Ngài, Ngài thọ lãnh vui vẻ tự nhiên không phân biệt giai cấp thí chủ hoặc vật cúng cao quý hay thấp hèn. Do bốn pháp kể trên do Đức Thế Tôn ngự đến nơi nào hằng làm cho đại chúng phát tâm tín ngưỡng sùng mộ Ngài. Chúng sinh nào chưa có đức tin khi gặp Ngài phát sinh lòng cảm mến, tin tưởng. Chúng sinh nào tu theo giáo pháp khi nghe Ngài thuyết pháp nhìn sắc thân, nghe tiếng nói và tâm bình đẳng của Ngài đức tin càng được kiên cố và tâm thực hành tinh tấn những pháp mà Ngài đã giáo huấn. - Đi đến nơi trong sạch cao đẹp: Đức Phật hằng đến nơi trong sạch cao đẹp, vì trên đường ấy thanh tịnh và không lỗi lầm do Ngài đã diệt tận các lậu hoặc. - Đi đến mục đích cao đẹp: Vì Ngài đã đạt đến Níp-bàn, vô sanh bất diệt, vượt khỏi tam giới. - Đi đúng con đường: Các phiền não Ngài đã tận trừ bằng thánh đạo, không còn đeo bám trở lại, Ngài đã hành trì đúng đắn ba mươi pháp độ, Ngài không lầm lạc trong thường kiến hay đoạn kiến, nên được gọi là bậc đi đúng đường. B. Ngôn ngữ chơn chánh: Những huấn từ Ngài ban ra chôn thật, đúng chân lý nhắm đem đến sự lợi ích và sự giải thoát của chúng sinh mà Đức Phật thốt ra, cũng tùy theo căn cơ, trình độ và tùy theo hoàn cảnh thích đáng. Điều nào Đức Phật biết là chân lý, hữu ích và hợp lý với tâm tính, sở thích người nghe Ngài tìm cơ hội thuận tiện để nói, bởi Ngài là bậc biết rõ thời điểm thích hợp để nói những lời thích hợp. Đức Phật đã thông rõ vô lượng pháp môn nhưng Ngài phổ cập những pháp đúng chân lý đem đến lợi ích và giải thoát cho chúng sinh mà thôi. 5. Lokavidū: Thế gian giải. Bởi Ngài đã thông suốt tam giới. Tam giới gồm: dục giới, sắc giới, vô sắc giới. a) Dục giới: Gồm có bốn cõi khổ và bảy cõi vui dục giới. - Bốn cõi khổ là: Địa ngục, bàng sanh (súc sanh), ngạ quỉ và A-tu-la. Các chúng sinh trong cõi này không có điều kiện thực hành thiện nghiệp hay cảnh giới không có sự an lạc, an vui. - Bảy cõi vui dục giới: Gồm có nhân loại và sáu cõi trời dục giới, Tứ thiên vương, Đạo lợi, Dạ ma, Đâu xuất, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại. b) Sắc giới: Là cảnh giới chúng sinh thọ hưởng sự an vui do nơi quả phước của thiền định hữu sắc (dùng các đề mục là đất, nước, ánh sáng, trắng, vàng ...), tùy theo năng lực của bậc thiền đã đắc mà tái sinh vào 16 cõi trời sắc giới có tuổi thọ từ 1/3 đến 16.000 kiếp quả địa cầu. - Sơ thiền: Phạm chúng thiên, phạm phụ thiên, đại phạm thiên. - Nhị thiền: Thiểu quang thiên, vô lượng quang thiên, quang âm thiên. - Tam thiền: Thiểu tịnh thiên, vô lượng thiên, biến tịnh thiên. - Tứ thiền: Quảng quả thiên, vô tưởng tịnh thiên, và ngũ tịnh cư. Cõi ngũ tịnh cư (còn gọi là trung gian bát Níp-bàn) chia làm 5 cõi: vô phiền thiên, vô nhiệt thiên, thiện kiến thiên, thiện hiện thiên, sắc cứu cánh thiên. c) Vô sắc giới: Là cảnh giới mà chúng sinh không còn sắc tướng chỉ còn tâm tinh khiết không nhơ bợn, các vị trời ấy đã đắc các bậc thiền vô sắc tái sinh vào, tuổi thọ của các vị trời từ 20 ngàn đến 84 ngàn kiếp quả địa cầu. - Cõi không vô biên - Cõi thức vô biên - Cõi vô sở hữu - Cõi phi tưởng, phi phi tưởng. Trong tam giới vừa kể trên có chúng sinh chỉ có 1 uẩn, 4 uẩn và cõi có đủ 5 uẩn. Tam giới thuộc thế gian, pháp nào còn sanh diệt, thể trạng bị chi phối bởi vô thường phải bị tiêu hoại, tan rã gọi là thế gian Ngài đã thông suốt. - Pháp thế gian:
- Pháp hành thế gian: Là những pháp hữu vi phát sinh nên có nguyên nhân tạo tác. Do cái này có mặt, cái kia có mặt, do cái này diệt, cái kia diệt. - Chúng sinh thế gian: Đức Phật biết rõ tất cả tiềm tánh phiền não của chúng sinh, biết rõ căn tánh và thiên hướng của chúng sinh, kẻ này có ít trần cấu, kẻ kia có nhiều trần cấu, kẻ này có pháp quyền mạnh, kẻ kia có pháp quyền non yếu, kẻ này dễ giáo hóa, kẻ kia khó giáo hóa... Những hạng phàm nhân tâm họ thường có hai pháp là thường kiến và đoạn kiến. Bậc thánh nhân có muời pháp minh sát tuệ, chân như tuệ. Cũng như những phiền não ngủ ngầm trong tâm chúng sinh chờ dịp phát khởi lên: tình dục, mê thích trong tam giới, bất bình, cống cao ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, vô minh. Ngài biết chúng sinh không phạm hoại chủng trí hay gọi là ba pháp ngăn cản là: tà kiến, ngũ nghịch đại tội, xâm phạm trinh tiết Tỳ khưu ni thánh nhơn. Những chúng sinh đang thực hiện các pháp: bố thí, trì giới, tham thiền, có lòng từ bi, tinh tấn thích học hỏi giáo lý, nghe pháp. Những chúng sinh ấy đang gieo duyên lành không đạt đạo quả ngay hiện tại thì những chúng sinh ấy đang tiến đến giải thoát trong ngày vị lai. - Hư không thế gian: Ngài thông suốt tất cả các cõi ở thế gian, hư không thế gian hay còn gọi là vũ trụ. Ngài là bậc hiểu biết thế gian một cách toàn diện và chi tiết tức là Ngài thông đạt thế gian này qua các phương diện thực tánh, tập khởi, vắng mặt và nguyên nhân hay ngõ đến sự vắng mặt ấy. Đức Thế Tôn là bậc hiền trí, Ngài đã đạt tri thế gian này, đã đạt đến điểm tận cùng của thế gian. Ngài đã hoàn mãn đời phạm hạnh, đã tỉnh hóa bản thân nên Ngài không còn một ước vọng gì ở đời này hay đời sau. Đức Phật đã thấy rõ và hiểu biết tường tận pháp hành thế gian, chúng sinh thế gian, hư không thế gian. Do nhờ những ân đức ấy mà Ngài có hiệu là Thế gian giải. 6. Anuttaro: Vô thượng sĩ. Do Ngài có đức hạnh và trí tuệ vượt trội hơn tất cả chúng sinh trong tam giới không ai sánh bằng. - Đức hạnh: Do Ngài có 32 tướng mão và 80 tướng phụ, hào quang sáng ngời, sắc thân không khuyết tật, oai nghi tốt đẹp, chư thiên và nhơn loại không ai sánh bằng. - Đầy đủ giới hạnh: Phàm giới và thánh giới. - Được sanh làm người nam đầy đủ ngũ quan, diện mạo phi phàm, học lực và kiếm cung tài lực xuất chúng, không người nam nào sánh bằng, ai ai cũng đều kính nể cảm phục. - Quý trọng vì phẩm hạnh Ngài thanh cao hơn tất cả chúng sinh nào trong tam giới. - Quý trọng vì hai oai đức không ai sánh bằng: Giới cao thượng và Trí tuệ cao thượng. - Quý trọng vì Ngài có đủ 3 phẩm hạnh tuyệt luân: Bố thí, trì giới, thiền định. - Quý trọng vì Ngài có đủ 4 pháp của bậc thánh: ít sự tham muốn, có đức tin, có sự tri túc, kiên cố trong mười pháp Ba-la-mật. - Quý trọng vì Ngài hiểu rõ mười một phước báu do tâm từ ái: 1. Khi ngủ được an vui. 2. Khi thức cũng được an vui. 3. Không nằm mộng thấy điều xấu xa. 4. Mọi người đều thương mến. 5. Chư thiên thường hộ trì. 6. Phi nhơn ái kính. 7. Lửa, thuốc độc, khí giới không làm hại được. 8. Tâm nhập thiền một cách mau lẹ. 9. Khi sắp lâm chung, tâm bình tỉnh, không mê loạn. 10. Nếu chưa đạt được đạo quả cao thượng thì khi chết được tái sinh vào cõi trời phạm thiên. - Quý trọng vì Ngài thông hiểu và giảng giải ích lợi của 13 pháp đầu đà: 1. Hành bằng cách lượm vải bỏ, vải dơ để may y mặc. 2. Hành bằng cách chỉ có tam y. 3. Hành bằng cách chỉ đi khất thực không thọ trai tăng. 4. Hành bằng cách chỉ đi khất thực mỗi nhà mỗi xóm. 5. Hành bằng cách chỉ ngồi thọ thực trong một chỗ. 6. Hành bằng cách chỉ thọ thực trong bát mà thôi. 7. Hành bằng cách đã ngăn vật thực rồi thì không được phép thọ thực ở nơi khác. 8. Hành bằng cách chỉ ở trong rừng. 9. Hành bằng cách chỉ ở nơi cội cây. 10. Hành bằng cách chỉ ở ngoài trời, khoảng trống. 11. Hành bằng cách chỉ ở nơi bãi tha ma. 12. Hành bằng cách chỉ ở nơi chư Tăng chỉ định đầu tiên không dời đổi. 13. Hành bằng cách chỉ ngồi chứ không nằm. - Trí tuệ: - Ngài được quý trọng vì có trí tuệ vô lượng vô biên mênh mông như không gian bao la chư thiên và nhơn loại không ai sánh bằng. Ngài có trí tuệ thông hiểu các pháp và giảng giải cho chúng sinh vui thích khi nghe Ngài thuyết pháp. Các pháp được Ngài tuyên thuyết không bao giờ có sự lẫn lộn hay vấp váp. - Quý trọng vì Ngài thông suốt các pháp ác bất thiện pháp và các phiền não hơn các bậc trí thức khác. - Quý trọng vì Ngài biết rõ tiền kiếp của Ngài và tất cả chúng sinh, là đắc túc mạng thông và thiên nhãn thông. Ngài đã dùng song thông để thuyết pháp độ Phật mẫu trong ba tháng hạ thứ 7 và Ngài dùng thần thông làm cho chư thiên và nhân loại và địa ngục thấy nhau rõ ràng khi Ngài từ cung trời Đạo lợi trở về. - Quý trọng vì Ngài đã tìm ra pháp tứ niệm xứ là con đường giải thoát cho các chúng sinh . - Quý trọng vì Ngài tròn đủ tứ thần túc: 1. Nguyện vọng thần túc. 2. Tinh tấn thần túc. 3. Tâm năng thần túc. 4. Trí tuệ thần túc. - Quý trọng vì Ngài tròn đủ 4 đạo, 4 quả, và Níp-bàn. - Quý trọng vì Ngài thông hiểu 4 phương pháp giải thoát khỏi các ác pháp: 1. Giải thoát bằng hữu dư y Níp-bàn. 2. Giải thoát bằng vô dư y Níp-bàn. 3. Giải thoát bằng đoạn tuyệt. 4. Giải thoát bằng sự đè nén của thiền định, giải thoát các pháp ác trong mỗi nấc tâm do minh sát tuệ. - Quý trọng vì Ngài có đầy đủ ngũ lực: 1. Tín lực: Đức tin dõng mãnh nơi Tam bảo, diệt trừ tà kiến. 2. Tấn lực: Tinh tấn diệt trừ lười biếng dãi đãi. 3. Niệm lực: Trí nhớ dõng mãnh trừ phóng tâm. 4. Định lực: Thiền định dõng mãnh diệt trừ tâm xao động. 5. Tuệ lực: Trí tuệ dõng mãnh diệt trừ vô minh. - Quý trọng vì sự thuyết 7 pháp thanh tịnh: 1. Thanh tịnh do sự trì giới. 2. Thanh tịnh do sự sửa trị làm cho tâm lành cho phát sinh. 3. Thanh tịnh do sự hiểu thấy chơn chánh của “danh và sắc” do sự hòa hợp của tứ đại và luôn luôn bị chi phối bởi ba tướng: vô thường, khổ, vô ngã. 4. Thanh tịnh do sự thấy rõ duyên của “danh và sắc”, dứt trừ hoài nghi đối với danh sắc trong tam thế. 5. Thanh tịnh do tuệ không sai lầm theo 10 tùy phiền não của minh sát, thấy rõ là đạo hay chẳng phải là đạo. 6. Thanh tịnh do tuệ thấy rõ thức tiến hóa là nên thực hành các pháp minh sát tuệ. 7. Thanh tịnh do tuệ xuất thế gian thấy rõ 4 đạo. - Quý trọng vì tuệ của Ngài đã thấy rõ hằng hà vô tận pháp môn không thể kể xiết. Do những ân đức cao quý không ai sánh bằng mà Đức Phật có hiệu là Vô Thượng Sĩ. 7. Purisadammasārathi: Điều ngự trượng phu. Ngài tế độ hay điều phục những chúng sinh hữu duyên đáng được tế độ. - Thế nào là người hữu duyên? Là người trong quá khứ đã gieo duyên lành bằng cách thực hành pháp Ba-la-mật, là người năng bố thí, chuyên cần trì giới tham thiền và thính pháp. Có hai hạng người hữu duyên: - Hạng người do chính Đức Phật tế độ. - Hạng người do các bậc thinh văn tế độ. - Phương pháp tế độ: Đức Thế Tôn tùy theo căn cơ tâm tánh của mỗi hạng người mà giảng giải các pháp. - Ngài giảng giải rõ ràng về các điều thiện và điều ác, sự hành trì cùng lợi ích của bố thí trì giới. - Ngài dạy bảo theo nguyên nhân là tùy theo quả lành hoặc quả dữ đã xảy ra, Ngài chỉ rõ cho thấy do nhân thiện hoặc nhân bất thiện. - Ngài giáo huấn thành 3 pháp. 1. Bằng cách dùng các pháp thần thông. 2. Bằng cách biết rõ tâm của chúng sinh. 3. Bằng những lời khuyên răn nhắc nhở về giới-định-tuệ từ thấp đến cao. Đối với những người chưa có đức tin, Ngài hướng dẫn cho có đức tin. Đối với người đã có giới thanh tịnh, Ngài hướng dẫn các đề mục thiền từ thấp đến cao, hướng dẫn các đạo lộ để họ thành đạt thánh quả và giải thoát sinh tử luân hồi nếu căn duyên của họ đầy đủ. “Này Kesi, Như lai hằng điều dẫn kẻ đáng điều dẫn, bằng các phương cách tinh tế cũng có, điển hình cũng có, hoặc cũng vừa tinh tế mà cũng vừa điển hình”. Chúng sinh được tế độ: - Purisa: Những người nam. - Damma: Đáng được giáo hóa - Sārathi: Bậc chỉ đạo, bậc điều phục. Như thế Đức Thế Tôn chỉ độ toàn những người nam thôi hay sao? Ngài tế độ cả nam lẫn nữ. Nhưng lẽ thường nói đến người nam trước, vì theo Phật giáo, người nam hữu phước hơn người nữ, và hành đạo cũng được tiện lợi dễ dàng hơn. Đương thời, Đức Phật đã độ cho Saccaka Nigaṇṭhaputta, thanh niên Ambattha, Pokkharasādi, Sonadaṇḍa, Kutadanta... Đối với bàng sanh như long vương Apalāla long vương Cūladara, long vương Maho-dara, aggisikha. Dhūmasikha, Ālavāla, voi Dhana-bāla, Nālāgiri. Trong hàng phi nhân có dạ xoa Āla-vaka, dạ xoa Sūciloma, Kharaloma, vua trời Đế thích và vô số chư thiên đã được Đức Phật tế độ, dẫn dắt. Hằng ngày vào canh cuối, Đức Thế Tôn dùng thiên nhãn quan sát khắp hướng, nếu có chúng sinh nào hữu duyên Ngài sẽ tiếp độ dù bất cứ gần hay xa. Trên đường hoằng pháp của Đức Phật, Ngài không từ chối bất cứ nơi nào, không từ chối thuyết pháp cho người nào nếu người ấy hữu duyên và có đủ khả năng lãnh hội giáo pháp. Bước chân Ngài trải rộng cùng khắp thành thị, thôn quê. Ngài tiếp xúc với tất cả hạng người, từ vua chúa đến các Bà-la-môn, luôn cả những người dân nô lệ cùng khổ. Huấn từ Ngài gồm có ba: - Không nên làm điều ác. - Nên làm các điều lành. - Nên giữ tâm cho trong sạch và không nên dễ duôi. Do nhờ ân đức từ bi phổ độ chúng sinh và dẫn dắt chúng sinh trên đường đến bờ giải thoát mà Đức Phật có danh hiệu là Điều ngự trượng phu. 8. Satthādevamanussānaṃ – Thiên nhân sư. Bởi Ngài luôn dạy bảo chúng sinh về lợi ích đời này, lợi ích đời sau và lợí ích cao thượng một cách thích ứng. A- Sự lợi ích của giáo pháp do Ngài tìm ra: 1. Lợi ích hiện tại hay lợi ích đời này: Là lợi ích tạo cho đời sống ngay trong kiếp này được tốt đẹp, có sự thanh lọc thân, tâm, vô tội, không trái với luật đời và luật đạo. Lợi ích hiện tại có bốn: - Đầy đủ sự tháo vát trong công vịêc, siêng năng làm những công việc nuôi mạng hằng ngày bằng những nghề nghiệp chân chánh. - Đầy đủ sự bảo vệ: bảo vệ kiến thức, bảo vệ gìn giữ tài sản kiếm được không để hao mòn, tiêu hoại vì những nguyên nhân: lửa cháy, trom cướp, chơi bời, cờ bạc; bảo vệ trạng thái an lạc vô bệnh. - Phải thân cận bạn lành, thầy tốt, là những người có đức tin, có giới hạnh, năng làm việc phước thí, có trí tuệ. - Phải biết tiêu xài độ lượng tiền của tùy theo sức mình kiếm được không tiêu pha phung phí vượt quá sức mình. 2. Lợi ích đời sau: Lợi ích đời sau là tái sinh những cảnh giới an vui, có niệm tuệ tốt, có sự thấy đúng, đầy đủ tài sản. Đạt được lợi ích đời sau có bốn: - Phải có đầy đủ niềm tin hay có sự tịnh tín với năm ân đức vô lượng là: Phật, Pháp, Tăng, Cha, Mẹ, Thầy tổ. - Phải có đầy đủ giới, có giới hạnh trong sạch. - Phải có sự dứt bỏ hay phải biết bố thí đến các bậc Sa-môn, kẻ bần cùng, bệnh tật,... theo khả năng của mình. - Phải có đầy đủ trí tuệ hay phải biết tri nhân, tri quả trong mọi công việc và biết thật tướng của các pháp hữu vi. Người thực hành đầy đủ các điều kể trên là người đã dọn xong con đường đi về buổi vị lai. 3. Lợi ích cao thượng: Là lợi ích thoát khỏi vòng luân hồi đắc chứng đạo quả Níp-bàn. Điều thực hành lợi ích cao thượng có một pháp là không dễ duôi hay thực hành Tứ niệm xứ. B. Bậc dẫn đạo tuyệt luân: Đức Thế Tôn là người dẫn đạo chúng sinh đến nơi an lạc là Níp-bàn. Một vị được gọi là hướng đạo chuyên nghiệp, là đưa đoàn lữ hành vượt qua những đường xa hẻo lánh, nguy hiểm đến nơi an toàn vô sự. Con đường có 5 sự tai hại: trộm cướp, thú dữ, không nước uống, không vật thực, phi nhơn nhiểu hại. Cũng như thế ấy đấng Thiên nhân sư đã đưa chúng sinh vượt qua con đường có sự khổ não và tai hại như: khổ sanh, khổ già, khổ bệnh, khổ chết, khổ vì các sự thống khổ, khổ vì buồn rầu thương tiếc, khổ vì khóc than kể lể, khổ vì phiền não, khổ vì bực tức sân hận, khổ vì tà kiến, khổ vì phóng tâm, khổ vì hoài nghi, khổ vì giới cấm thủ. Sự tu tập trải qua nhiều đời, nhiều kiếp và sự thực hành tròn đủ 30 pháp Ba-la-mật, chỉ nhằm một mục đích duy nhất là vươt qua con đường đầy đau khổ. Khi Ngài đã vượt qua, Ngài hướng dẫn chúng sinh cách vượt qua khỏi bể khổ trầm luân này, nếu ai tin tưởng vững chắc và thực hành đúng giáo pháp một cách trọn vẹn. Ngài không chỉ là thầy của chư thiên và nhân loại không thôi, mà Ngài là thầy của tất cả muôn loài những chúng sinh hữu duyên dù là thú, phi nhơn. Ngài vẫn tiếp độ cho chúng sinh ấy đạt được mục đích cao thượng. Do những ân đức cao quý trên mà Đức Phật có danh hiệu là Thiên nhân sư. 9. Buddho – Phật. Có ba ý nghĩa: - Bậc đã thức tỉnh. - Bậc đã thoát ly. - Bậc đã thông suốt lý diệu đế và đem ra giáo hoá cho tất cả chúng sinh cùng biết. 1. Bậc đã thức tỉnh: Ngài đã hoàn toàn chứng ngộ những gì cần phải chứng ngộ, sự chứng ngộ ở đây chỉ cho tuệ giác thấu triệt pháp giải thoát. Ngài tận diệt bảy pháp ngủ ngầm là những phiền não vi tế tiềm tàng chờ có dịp thì dấy động lên. - Mê thích tình dục ngủ ngầm. - Ưa thích tam giới ngủ ngầm. - Cống cao ngã mạn ngủ ngầm. - Hoài nghi ngủ ngầm. - Vô minh ngủ ngầm. Ngài tự giác ngộ là đã hiểu biết tường tận và tận diệt 7 pháp trên. Ngài truyền dạy giảng giải cho tất cả chúng sinh thấy được tai hại mà thức tỉnh thoát ra khỏi bể khổ. 2. Bậc đã thoát ly: Đức Thế Tôn là bậc đã thoát ly khỏi vô minh, không thấy và không biết. - Không thấy các sự thống khổ đang đè nặng trên tất cả chúng sinh trong tam giới mà vẫn thản nhiên không hay, không biết những thống khổ ấy, cứ vẫn mê muội đang chạy theo ngũ trần lục dục, không thấy được thật tướng, cái khổ cho là vui, cái vô thường cho là thường tồn bền vững, cái ô trược nhớp nhúa cho là đẹp là quý, không thấy được nguyên nhân phát sinh ra các sự khổ. - Không biết con đường diệt khổ hay các phương pháp để tận diệt sự khổ. Đức Phật là bậc đã thoát khỏi cái vỏ vô minh đã bao bọc tâm Ngài vô số kiếp quá khứ. Đắc được tuệ giác thông suốt các pháp diệu đế, Ngài truyền bá giáo pháp cho chúng sinh thực hành theo, chính Ngài cũng chuyên cần thực hiện phận sự không ngừng nghỉ cho đến lúc Níp-bàn. 3. Bậc đã thông suốt lý Tứ diệu đế: Mỗi diệu đế có 4 lý còn gọi là tướng trạng hay năng lực. Khổ đế: - Có năng lực hãm hại. - Có năng lực làm bực bội, nóng nảy. - Có trạng thái tùy theo nguyên nhân cấu tạo. - Có trạng thái luôn thay đổi không bền vững, Tập đế: - Có năng lực tập hợp các sự khổ để phát sinh lên. - Có trạng thái là nguyên nhân của sự khổ. - Có năng lực giữ chúng sinh trong tam giới. - Có năng lực cản trở chúng sinh trên đường giải thoát. Diệt đế: - Có năng lực làm cho an vui thoát khỏi tam giới. - Có trạng thái yên lặng tránh xa sự khổ. - Có trạng thái không do nguyên nhân tạo thành. - Có trạng thái không hoại diệt. Đạo đế: - Có năng lực đưa ra khỏi luân hồi. - Có tính cách là nguyên nhân đưa đến Níp-bàn. - Có tính cách quan trọng trong pháp hành cho thấy rõ Níp-bàn. Khổ, tập, đạo đế thuộc về đặc tính hửu vi. Diệt đế thuộc đặc tính vô vi. Những sự thống khổ do già, bệnh, chết, thương tiếc, khổ não, phiền muộn bực tức, thất vọng... gọi là khổ đế. Đức Phật đã hiểu biết tường tận vô minh và ái dục là nguồn cội của luân hồi, là nguyên nhân phát sinh sự khổ gọi là tập đế. Do nhờ thánh đạo, Ngài đã diệt tận vô minh và ái dục thì các pháp là hành thức, danh, sắc... Cũng bị diệt theo gọi là diệt đế. Do thiền định là minh sát, Ngài đã làm cho rõ rệt con đường dẫn đến nơi diệt khổ gọi là đạo đế. Sau khi Ngài chứng đạt đạo quả thông suốt Tứ diệu đế, Ngài đem ra giáo hóa cho chúng sinh biết để thực hành theo để diệt tận các sự thống khổ, được giải thoát cũng như Ngài. 10. Bhagavā: Thế tôn. Đức Thế Tôn là một danh từ để biểu lộ sự tôn kính vô vàng và lòng sùng mộ của tất cả chúng sinh đối với Đức Phật. Vì Ngài là bậc tối thượng hơn tất cả các chúng sinh và có những ơn đức cao quý không một ai có được. - Bậc tu tập pháp tác thành Phật: Có 8 pháp được chư Phật thọ ký luôn tiến đến lợi ích đễ dẫn dắt chúng sinh giải thoát và thực hành đại công đức để chứng đạt Toàn giác trí, sự tu tập trong 4 A-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Ngài thực hành các pháp Ba-la-mật không gián đoạn. Những ước vọng cho mình và tha nhan Ngài đã thành tựu như ý. Ngài đã sống tinh cần, năng động đúng theo cương vị bậc Đạo sư. - Bậc thọ hưởng hữu phần pháp (bhāga): Tuổi thọ: Không ai có một năng lực cắt đứt tuổi thọ khi Ngài chưa muốn vô dư Níp-bàn. Trí tuệ: Ngài đạt vô chướng ngại trí nghĩa là khi Ngài muốn suy xét một điều nào thì không có gì ngăn che được điều Ngài cần biết. Hào quang: Hào quang Ngài sáng rực không ai không thể che lấp dù chư thiên phạm thiên hay đại phạm thiên, hào quang của Ngài có thể xuyên thấu không gian có thể đến tận chốn địa ngục. Ám chỉ được người cung kính: Ngài được tất cả chúng sinh là người, chư thiên, phạm thiên... hết mực cung kính. - Bậc viễn ly hữu phần pháp: Bậc đã tu tập làm tròn đủ 30 pháp Ba-la-mật. - Bậc phân chia (Bhāgi): Ngài phân chia giáo pháp đến cho tất cả chúng sinh trong tam giới, những ai có lòng mong mỏi tìm đường giải thoát, những ai gieo trồng thiện sự là nhân đưa đến an vui tuyệt đối. Ngài là bậc đại trí tuệ có thể chia chẻ, tuyên thuyết các pháp một cách chi tiết, tinh tế, mạch lạc. Ngài bố trí nội dung các pháp uẩn, xứ, giới, đế, thiện, bất thiện... một cách hợp lý và sâu sắc. Ngài sắp xếp bố cục các pháp nghĩa hết sức hệ thống và trình tự. Pháp tánh đặc thù của Ngài khắp tam giới đều biết. Từ hàng cư sĩ hay xuất gia, từ loài người cho đến chư thiên, phạm thiên đều tìm đến yết kiến, lắng nghe kim ngôn huấn từ của Ngài ban cho. Ngài là bậc làm vơi nổi đau khổ cho đời dù là khổ thân hay khổ tâm. - Ngài phân chia tứ vật dụng do các thí chủ dâng đến Ngài cho chư Tăng. - Ngài hội đủ các ân đức cao cả. Ngài là bậc tối thượng trong tất cả chúng sinh. Ngài có đầy đủ các thiện tánh, đã phá hủy các căm xe sinh tử luân, là bậc Tôn sư khả kính nhất. - Ngài là bậc có đủ uy lực danh xưng vì khả năng hóa thông của Ngài vô hạn, là tối thượng. Ngài là bậc chứng đạt trọn vẹn siêu thế pháp. Ngài là bậc có danh xưng thanh tịnh, ân đức Ngài được cả tam giới biết đến. Ngài đã thành tựu thánh pháp báu thân, 100 phúc tướng trên cả báu thân lẩn pháp thân của Ngài đều toàn vẹn không khiếm khuyết để đem lại lòng tịnh tính cho tất cả ai chiêm ngưỡng. - Bậc đã cảm thắng (Jaya): Ngài đã cảm thắng đạo binh ma trong tâm, là các pháp triền cái cũng như những phiền não ngủ ngầm trước khi Ngài thành đạo. Chứng đạt đạo quả Chánh đẳng Chánh giác, Ngài đã đem lại chân lý cao thượng, những pháp vi diệu truyền bá cho chúng sinh thực hành. Có hạng phát tâm chán nản thế sự phù du, cắt cái ly gia sống đời phạm hạnh Tăng già, có những người trở nên có đức tin trong sạch tín thành Tam bảo. Tăng tín đồ dần dần trở nên đông đảo không kể xiết. Trên đường thuyết pháp độ đời, không ít trường hợp bọn ngoại đạo đến tranh biện chất vấn Ngài, hay không ít lần Ngài bị mắng nhiếc, nguyền rủa bởi lòng ganh tị xấu xa. Ngài vẫn điềm tỉnh phân giải bát bẻ lập luận sai lầm của họ và chỉ rõ đâu là nẻo chánh, thế nào là tai hại, thế nào là lợi ích. Chỉ có Ngài với trí tuệ thậm thâm, đầy đủ oai lực cảm thắng bọn tà kiến ngoại đạo đến khích bác, sau nhiều buổi tranh luận những người lúc đầu có ý định đến hạ nhục Ngài. Bọn họ đã thấy được chân lý từ nơi Ngài và sự lầm lạc của mình từ bấy lâu, rồi xin quy y Tam bảo trở thành những môn đệ, những cư sĩ tại gia hết lòng hộ trì Phật pháp. - Bậc đã tận diệt các phiền não trọng đại và vi tế, có tham, sân, si là nguồn cội. Hay nói cách khác vì Ngài đã phá vỡ toàn bộ các chướng ngại những trở lực như tham, sân, si, điên đảo kiến, vô tàm, vô uý, hiềm hận, giả dối, kiêu mạn, biếng lười, ganh tị, ba bất thiện căn, ba ác hạnh, ba trần cấu, tứ bộc, tứ phược, tứ phối, tứ kết, tứ thiên vị, tứ ái thủ, năm hoang tâm, năm thằng thúc, năm triền cái, năm hỷ ái, sáu nhân tranh tụng, sáu ái bộ, bảy tiềm miên phiền não, tám tà tánh, chín tham căn, thập ác nghiệp, 62 tà kiến, 108 ái điên đảo, hoặc là nói Ngài đã chiến thắng, vận từ ngũ ma khi còn ngự dưới cội bồ đề trước lúc thành đạo. 1. Ngũ uẩn ma vương: Chính vì có thân ngũ uẩn mới có sự thống khổ, cũng vì lầm lạc chấp rằng ngũ uẩn này có ta, cho sắc uẩn của ta, là ta, là thân ta. Và chấp thọ uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng như thế, nên các sự thống khổ từ đó phát sinh lên, cả 5 tên đạo tặc theo dính chúng sinh để chờ dịp hãm hại nên gọi ngủ uẩn ma vương. 2. Phiền não ma vương: Có 10 phiền não là tham, sân, si, ngã mạn, tà kiến, hoài nghi, uể oải, phóng tâm, không hổ thẹn tội lỗi, không ghê sợ tội lỗi, 10 phiền não này là nguồn cội các pháp ác hằng làm cho chúng sinh nóng nảy, khổ sở không ngừng trong hiện tại và vị lai, phải chịu trầm luân trong vòng sinh tử nên gọi là phiền não ma vương. Nếu kể chi tiết thì có: 1 tâm phàm + 52 tánh + 18 sắc thành tựu + 1 hư không + 1 sanh + 1 già + 1 tiềm thức = 75 phiền não bên trong + 75 phiền não bên ngoài = 150 x 10 phiền não kể trên = 1500 phiền não. 3. Pháp hành ma vương: Là hành vi tạo tác do thân, khẩu, ý dù ác hay thiện đều gọi chung pháp hành. - Pháp hành ác có 12 (bất thiện) = 8 pháp tham + 2 pháp sân + 2 pháp si. - Pháp hành thiện có 17: 8 pháp thiện dục giới + 5 pháp thiện sắc giới + 4 pháp thiện vô sắc. - Các pháp hành ác và hành thiện trên đây gọi là ma vương, vì pháp hành ác thường xúi giục, xô đẩy chúng sinh tạo những nghiệp dữ phải chịu khổ trong kiếp hiện tại và sa đọa trong bốn đường ác đạo: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, A-tu-la; còn pháp hành thiện thì rủ rê chúng sinh làm những việc phước thiện bố thí, trì giới, tham thiền để được hưởng nhơn thiên phước báu, hết làm người đến làm trời xoay dần mãi trong ba cõi, không thoát ra được vòng sinh tử luân hồi. 4. Chư thiên ma vương: Có một hạng chư thiên ác thường ngăn trở không cho làm những điều thiện. Cầm đầu hạng chư thiên này là vị chúa tể mà ta thường gọi là ma vương, thường ở một nơi riêng biệt trong cõi Tha hóa tự tại. Chính ma vương đã đến khuấy rối và cám dỗ Bồ tát dưới cội bồ đề nhưng Ngài cảm thắng nhờ pháp thập độ nhất là pháp bố thí Ba-la-mật. Lợi khí của ma vương là 3 tấm lưới: lưới tình dục, lưới sân hận, lưới ái dục ngủ trần. Chúng sinh nào đã bị sa vào ba tấm lưới ấy rồi luôn luôn phải chịu khổ sở, đau đớn, dù cố vùng vẫy cũng không sao thoát được, ví như loài chim, loài cá đã mắc vào lưới, vào bẫy thợ săn thì khó mà thoát ra. 5. Tử thần ma vương: Gọi là ma vương vì sự chết có quyền lực cắt đứt tuổi thọ chúng sinh. Không có cái khổ nào lớn bằng khổ chết, dù không muốn xa lìa những nhân vật thương yêu trìu mến, dù tâm còn tham luyến tiền của, sản nghiệp, song khi tử thần đã đến thì từ vua chúa hay thường dân, sang cả hay bần cùng, trí hay ngu, ai ai cũng không cưỡng lại được. Đức Phật đã chiến thắng và loại trừ cả 5 hạng ma vương nên Ngài hoàn toàn giải thoát. - Bậc đại phước đức (Bhāyavā): Ngài được gọi là bậc đại phước đức do: 1. Sắc thân toàn mỹ: Đầy đủ 32 tướng tốt và 80 tướng phụ. 2. Đức hạnh toàn thiện: Ngài đã thực hành đầy đủ các pháp thiện và diệt tận các pháp bất thiện không dư sót. - Bậc có hạnh phúc (Bhagī): Ngài là bậc đã có 6 hạnh phúc sau đây: 1. Có khả năng đè nén, chế ngự tư tưởng không cho tâm ác phát sinh. 2. Đã thực hành tròn đủ các pháp thiện thế gian và xuất thế gian. 3. Danh tiếng quý trọng và vang lừng khắp tam giới không ai sánh bằng. 4. Sắc thân rạng rỡ như vàng ròng, hào quang tỏa khắp khiến cho chúng sinh vui thích nhìn Ngài. 5. Khi ước mong vật chi hay cần dùng vật gì cho Ngài hay cho người khác đều được như ý. 6. Có chánh tinh tấn là sự cố gắng trong Tứ chánh cần khiến hàng chúng sinh vui thích, thán phục, tôn kính Ngài. - Bậc năng lai vãng (Bhaji): 1. Ngài thường đi đến nơi vắng vẽ an tịnh xa tiếng ồn ào để tham thiền nhập định. 2. Ngài năng thực hành các pháp thiền sắc giới, vô sắc giới, các pháp minh sát theo 3 tướng: vô thường, khổ não, vô ngã, 8 thánh đạo thánh quả và Níp-bàn. - Bậc đã dứt nẻo tam giới (Bhavānaṃ antaka-roti): Cuộc hành trình trong tam giới của Ngài từ vô số kiếp đã chấm dứt vì nhân tái sinh, luân hồi đã bị tận diệt, Ngài đã vượt khỏi tam giới, không tái sinh nữa. Do những ân đức kể trên mà Ngài có hiệu Thế-tôn. Cả 10 hồng danh cao quý kể trên không ai có thể dâng đến cho Ngài, dù là chư thiên, phạm thiên, cha mẹ hay hoàng thân quốc thích. Cả 10 hồng danh phát khởi đến chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai cùng lúc với tâm diệu giác viên minh, là tên gọi dựa vào pháp tánh giải thoát những tiếng chế định có ý nghĩa làm sáng chói danh Đức Phật, tỏ rõ Nhất thiết chủng trí mà Ngài chứng đạt dưới cội bồ đề. 1. Ba danh hiệu: Araham, Sugato, Anuttaro thuộc tịnh đức. 2. Bốn danh hiệu: Purisadammasārathi, Satthā-devamanussanaṃ, Buddho, Bhagavā thuộc bi đức. 3. Bốn danh hiệu: Sammāsambuddho, vijjā-carana sampanno, Lokavidū thuộc tuệ đức. - Tịnh đức: Đức Phật có cuộc sống thanh tịnh, Ngài không hề vi phạm một lỗi lầm bằng thân, khẩu, thậm chí lỗi lầm trong tư tưởng, Ngài đã thanh lọc ô nhiễm nên hành động lời nói tư tưởng của Ngài thanh tịnh, tất cả phiền não là nguồn gốc của lỗi lầm đã được đoạn trừ hoàn toàn. Các tiền khiên tật là mầm móng của khuyết điểm cũng đã chấm dứt. Trước mặt người hay không có mặt người Ngài không hề làm, nói và tưởng điều tội lỗi. - Bi đức: Đức Phật là thể hiện lòng nhân đạo, đức tánh từ bi vô lượng. Đối với Ngài không hề có một thoáng tư tưởng phẩn nộ thù hằn đối với bất cứ loài chúng sinh nào. Trong mắt Ngài, tất cả chúng sinh đều đáng thương xót, cần được tiếp độ. Thậm chí những người công kích đối lập với Ngài, Ngài vẫn sẵn sàng cởi mở và tiếp độ họ nếu họ hữu duyên. Đức Phật vì lòng bi mẫn tiếp độ chúng sinh. Hành động của Ngài không phải là một sự cứu rổi hay ban ân của đấng thượng đế, thần linh mà chỉ vì lòng thương xót chúng sinh chìm đắm trong phiền não ác nghiệp nên bị khổ. Khi thành đạo Ngài tùy cơ thuyết pháp giáo hóa chúng sinh bỏ con đường tội lỗi hoàn lương nếp sống, để họ gặt hái phước báu và đạt đến cứu cánh giải thoát. Sự xuất hiện và sự hoằng pháp của Đức Phật chỉ nhằm lợi ích cho tất cả các chúng sinh. - Tuệ đức: Đức Phật được xưng tụng là bậc trí tuệ viên mãn, do công phu tu tập và trao dồi trí tuệ từ vô lượng kiếp quá khứ nên Ngài đã thành tựu nhất thiết chủng trí, nghĩa là trí tuệ viên mãn, thông suốt tất cả các pháp. Đối với Đức Phật, không bao giờ có trở ngại nào về trí thức, khi Ngài muốn tìm hiểu thì không có gì che án hoặc ngăn cản. Từ pháp thế gian đến pháp siêu thế, từ những đời quá khứ đến tương lai từ các cảnh giới nhân loại đến các cảnh giới chư thiên, phạm thiên hay phi nhân tất cả đều không thể vượt ngoài sự hiểu biết của Ngài. Vì Đức Phật thành tựu Tịnh đức vô lượng nên Ngài được xem là nhà đại hiền triết. Vì Đức Phật thành tựu Bi đức vô lượng nên Ngài được xem là nhà đại cách mạng, xóa bỏ giai cấp, một nhà đại giáo dục. Vì Đức Phật thành tựu Trí đức viên mãn nên Ngài được xem là nhà đại tư tưởng, và nhà tâm lý học. Đức Thế Tôn là một nhân vật toàn hảo trên mọi phương diện. Nói như thế không phải tôn vinh quá mức đấng Đạo sư của mình, mà chính vì đã được luận cứ qua đời sống sinh hoạt, hoằng pháp của Ngài đã được hàng thức giả công nhận. Ngoài mười hồng danh cao quý kể trên còn một danh xưng được Đức Phật dùng khi thuyết pháp hoặc nói chuyện đó là danh xưng Như lai, gồm 8 ý nghĩa sau đây: 1. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã đến như vậy: vì Ngài đã hành trì theo đúng với lời phát nguyện Ngài đã thực hành các pháp Ba-la-mật như: bố thí, trì giới, ly dục, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện, từ ái, hành xả. Ngài đã thực hành tròn đủ 10 pháp bờ kia, 10 pháp bờ trên, 10 pháp bờ cao thượng. Khi đã thực hành viên mãn, đầy đủ 30 pháp Ba-la-mật như hy sinh tài sản của cải, hy sinh vương quốc, vợ con, hy sinh tứ chi cho đến hy sinh bằng chính sinh mạng. Ngài đã làm 5 đại thí này giống như chư Phật Toàn-giác trong quá khứ và vị lai. Một khi muốn tác thành Phật quả vô thượng Chánh đẳng Chánh giác đều phải hành như vậy. 2. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã đi như vậy: khi Ngài đản sanh, đứng trên mặt đất vững vàng bằng hai chân như bò chúa, mặt nhìn về hướng Bắc trông giống như chư Phật quá khứ, kể từ Đức Phật Vipassi, bước đi bảy bước mắt nhìn các hướng xung quanh như sư tử chúa đứng trên đỉnh núi. Ngài thốt ra kệ ngôn:
“Thiên thượng
thiên hạ 3. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã thấu triệt chơn tướng. Bởi Ngài đã đi đến sự thấu triệt thật tướng, tướng bằng Toàn-giác-trí của Ngài đến các pháp như: Hữu sắc, Sơ, nhị, tam, tứ, ngũ thiền, vô sắc, không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ, phi tưởng, phi phi tưởng xứ. Thành đạt tướng của sa-môn pháp như: Tu-đà-hườn đạo quả – Tư-đà-hàm đạo, quả – A-na-hàm đạo, quả – A-la-hán đạo, quả – Thinh văn giác, Độc giác Phật, vô thượng Chánh đẳng giác bằng phương pháp tu tiến Giới – Định – Tuệ trong hiện tại, quá khứ, đã thực hành tròn đủ 30 pháp ba-la-mật. Tùy theo hạnh nguyện thinh văn giác có thời gian thực hành là một ngàn đại kiếp, đại thinh văn thực hành là 100 ngàn đại kiếp, thượng thủ thinh văn thực hành là 1 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Toàn giác Phật 4 A Tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. 4. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã tự giác ngộ. Hoàn toàn đúng với chân thật Pháp. Đó là Pháp Tứ diệu đế như Ngài đã giảng giải cho các Tỳ khưu như sau: “Này chư Tỳ khưu có bốn pháp này là chân lý, không phải phi chân lý, là chân pháp không phải phi chân pháp, chúng không sai khác. Thế nào là bốn? Đây là khổ, là chân phap không phải phi chân pháp. Đây là khổ tập, là chân pháp không phải phi chân pháp. Đây là khổ diệt, là chân pháp không phải phi chân pháp. Đây là đạo hạnh đưa đến diệt khổ, là chân pháp không phải phi chân pháp. Đức Thế Tôn đã hoàn toàn giác ngộ các chân pháp này. 5. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai, bởi Ngài thấy đúng chân lý, do Ngài thực chân được 6 nội xứ: mắt, Tai, mũi, lưỡi, thân, ý, và 6 ngoại xứ: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Sắc xứ diểu hành đi vào phạm vi của nhãn xứ, thinh xứ đi vào phạm vi của nhĩ xứ, tỷ, thiệt, thân, ý... (cũng như thế) của vô lượng chúng sinh trong vô số thế giới Ngài đã tuyên thuyết về sự thực chứng của Ngài như sau: “Này các Tỳ khưu! Thuở trước khi ta chưa giác ngộ vô thượng Chánh đẳng giác, khi ta còn là Bồ Tát, ta suy nghĩ như sau: Cái gì là vị ngọt? Cái gì là nguy hiểm? Cái gì là sự xuất ly của nhãn, nhỉ... với sắc thinh... Này các Tỳ khưu! Về vấn đề này ta suy nghĩ như sau: Do duyên mắt khởi lên hỷ lạc nào đó gọi là vị ngọt của mắt. Sự nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với mắt, đó là sự xuất ly của mắt. Đối với tai, mũi, lưỡi... cũng như thế. Này các Tỳ khưu! Cho đến khi nào đối với 6 nội xứ và 6 ngoại xứ ta chưa thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, sự nguy hại là nguy hại, sự xuất ly là xuất ly; cho đến khi ấy đối với các thiên giới gồm có thiên giới, ma giới, phạm thiên giới cùng với chúng sa-môn, bà-la-môn, chư thiên và nhân loại, ta không xác chứng ta đã chứng đắc Phật quả vô thượng Chánh đẳng giác”. 6. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã nói như vậy: vì trong suốt 45 năm từ khi thành đạo cho đến khi Níp-bàn điều gì Ngài tuyên bố tất cả đều như vậy không hề sai khác. Những gì trong toàn thế giới này gồm thiên giới, ma giới, phạm thiên giới cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên, và nhân loại, những gì được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức trí, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tự sát điều được bậc Chánh đẳng giác tuyên bố và hướng dẫn chúng sinh hiểu biết, thực hành đúng chân pháp. 7. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã hành như vậy. Đức Phật là bậc trọn lành vì thân, khẩu, ý của Ngài hoàn toàn thanh tịnh, dù trước mặt người hay sau lưng người, dù nơi sáng tỏ hay chỗ khuất lấp, Ngài cũng không bao giờ sai phạm, dù là chút ít hay một thoáng suy nghĩ, bởi Ngài đã sát trừ phiền não. Sau khi chứng đắc Chánh đẳng giác, Ngài đã tuyên thuyết pháp và luật, để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi và những ai được thực hành theo phương pháp mà Ngài đã chỉ dẫn sớm hay muộn cũng sẽ chấm dứt đau khổ. Lời nói Ngài đi đôi với thực hành và sự thực hành phù hợp theo lời nói, Ngài thực hành như thế nào nói thế ấy. Nói như thế nào thực hành thế ấy. 8. Đức Thế Tôn được gọi là Như lai bởi Ngài đã chiến thắng. Đức Phật là bậc tối thượng trên khắp thế gian này, Ngài đã nhiếp phục mọi loài chúng sinh trong vô số thế giới từ cõi phi phi tưởng cho đến cõi vô gián địa ngục. Không ai có thể đánh giá, phán đoán được nhất thiết chủng trí của Ngài. Ngài tuyên bố: “Này các Tỳ khưu trong tam giới này gồm thiên giới, ma giới, phạm thiên giới cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và nhân loại, Như lai là bậc chiến thắng không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến, đại tự tại. Do vậy mà được gọi là Như lai”. III. Đức Phật Níp-bàn: Giờ đây Đức Thế Tôn đã 80 tuổi thọ, hai vị thượng thủ thinh văn đại đức Xá-lợi-phất và đại đức Mục-kiền-liên đã viên tịch được ba tháng. Hai bà Pajāpati Gotamī và Yasodharā (Da-du-đà-la) cùng với đại đức La-Hầu-La cũng không còn. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn đang ngụ tại Vesali (thành Xá vệ), mùa mưa sắp đến, Ngài cùng Chư Tăng đi đến Beluva để chuẩn bị an cư mùa mưa. Một cơn bệnh trầm trọng làm cho Ngài đau đớn vô cùng nhưng Đức Thế Tôn luôn luôn giác tỉnh chánh niệm và tự chủ lấy mình. Ngài cố gắng vận dụng ý chí đè nén cơn đau. Bệnh dần dần thuyên giảm. Khi đã tạm bình phục, Ngài gọi đại đức Ānanda: “Này Ānanda! Nay Như lai đã niên cao tuổi lớn, cuộc hành trình của Như lai đã đến lúc tận cùng. Như lai đã trải qua suốt cuộc đời, giờ đây đã tám mươi tuổi thọ. Cũng như chiếc xe đã quá cũ kỹ, này Ānanda, chỉ có thể sử dụng được nếu ta hết sức thận trọng giữ gìn nó, được bồi bổ với nhiều ý chí, tiến đến tâm định không dấu hiệu, và sống trong trạng thái ấy, thân Như lai mới thoải mái dễ chịu”. Như vậy này Ānanda! Hãy lấy chính con làm hải đảo cho con, chính con làm nương tựa cho con. Không nên ỷ lại nơi ai khác để làm chỗ nương tựa. Hãy an trú vào pháp, sống chơn chánh và hành trì đúng chánh pháp, này Ānanda! Dù trong hiện tại hay sau khi Như lai viên tịch, lấy chính mình làm hải đảo cho mình không còn phải nương tựa nơi nào bên ngoài. Này Ānanda! Sẽ tiến đến mức cao tuyệt đỉnh! Nhưng những người ấy phải tận lực gia công để tiến hóa”. Từ Beluva, Ngài đến Mahavana. Đức Thế Tôn triệu tập chư Tỳ khưu đang lưu ngụ nơi đây và khuyên dạy: “Này chư Tỳ khưu! Giáo pháp mà Như lai chứng ngộ, Như lai đã truyền dạy cho các con, các con hãy vững vàng làm chủ giáo pháp, hãy thực hành tinh tấn, sống an trú vững vàng trong giáo pháp và giới luật, sẽ vượt qua biển trầm luân của đời sống chấm dứt sầu muộn. Sống quán niệm giáo pháp và truyền bá hoằng dương giáo pháp, vì lòng bi mẫn thương xót thế gian, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và nhân loại”. Một lần nữa Đức Thế Tôn xác nhận: “Như lai đã truyền dạy giáo pháp, này Ānanda, mà không có sự phân biệt giữa giáo huấn bí truyền và giáo huấn công truyền, bởi vì đối với chân lý Như lai không có gì giống như ‘bàn tay nắm lại’ của một vị thầy còn giấu học trò một vài sở kiến chánh yếu nào. Giáo pháp và giáo luật mà Như lai đã chế định và ban hành cho các con, sau khi Như lai nhập diệt hãy lấy giáo pháp và giáo luật làm thầy chúng con. Này chư Tỳ khưu, có thể trong vài người trong các con còn hoài nghi về Phật pháp. Hãy tự do khảo sát và tìm hiểu, này chư Tỳ khưu, không nên hối tiếc khi đối diện với thầy tại sao ta không nêu lên vấn đề để được Đức Thế Tôn giảng giải”. Khi Đức Phật dạy như thế thì tất cả chư Tăng đều im lặng lần thứ nhì, lần thứ ba. Đức Thế Tôn lập lại và chư Tăng vẫn giữ im lặng. Dưới tàn cây Sala (Song long thọ) của dòng Malla tại Kusinàrà (câu thi na) điểm cuối cùng của cuộc hành trình. Nằm nghiêng về bên phải, đầu quay về phía Bắc, mặt nhìn về Tây, trầm lặng và tỉnh giác, Đức Thế Tôn giống như người cha sắp lâm chung, quan tâm đến những đứa con của mình Ngài, quan sát và kiểm điiểm hội chúng lần cuối cùng, và Ngài ân cần khuyên dạy như sau: “Này Chư Tỳ khưu! Các pháp hành và biến hoại, các ngươi hãy tu tập, chớ nên dễ duôi”. Sau khi ban di huấn tối hậu, Đức Thế Tôn tuần tự nhập các tầng thiền, càng lúc càng tế nhị, từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và tứ thiền sắc giới, tiếp tục nhập 4 tầng thiền vô sắc cho đến phi phi tưởng xứ thiền; rồi từ phi phi tưởng xứ thiền, Ngài tuần tự nhập ngược lại các tầng thiền thấp cho tới sơ thiền; từ sơ thiền nhập trở lại các tầng thiền cao cho tới tứ thiền; vừa khi xả tứ thiền thì lập tức Níp-bàn. Đây là tục lệ của Chư Phật phải nhập liên thiền rồi mới viên tịch. Trong lịch sử nhân loại không có một giáo chủ nào như Đức Phật tối thượng đã cống hiến trọn đời mình để tạo an lành và hạnh phúc cho toàn thể chúng sinh, bất kể giai cấp chủng tộc hay nam nữ. Từ lúc chứng đạt đạo quả Chánh đẳng giác cho đến khi chấm dứt cuộc đời, Ngài cố gắng không ngừng nghỉ, không mỏi mệt một cách trầm lặng để nâng cao phẩm giá con người. Dù cam go, khổ nhọc hay những trở ngại trên đường hoằng pháp, Ngài luôn luôn tận lực vượt qua. Khi xác thân mệt mõi đau ốm, tinh thần Ngài luôn dũng mãnh kiên quyết và giác tỉnh cho đến giây phút sau cùng. Hơn hai mươi lăm thế kỷ trôi qua kể từ khi Đức Thế Tôn nhập diệt, bức thông điệp từ bi và trí tuệ của Ngài vẫn còn được lưu truyền, hàng triệu tấm lòng vẫn hướng về con đường giải thoát. Ánh vinh quang của Ngài sáng tỏ như vầng thái dương, và giáo pháp Ngài giảng dạy vẫn còn đó cho những ai muốn tìm chân lý cao thượng và nơi an vui tuyệt đối. IV. Hạnh phúc và lợi ích của bậc Đạo sư mang đến cho đời: Từ khi còn là một vị Bồ Tát, Ngài thực hành các pháp Ba-la-mật một cách mạnh mẽ quả quyết với tâm lý xuất ly khỏi thế gian, hướng đến mục đích giải thoát với ba lợi ích: - Lợi ích cho bản thân: Đạt đến trạng thái an vui tuyệt đối là Níp-bàn chấm dứt sinh tử. - Lợi ích cho đời: Giáo hóa chỉ rõ cho chúng sinh hiểu rõ và thực hành các phương pháp đưa đến lợi ích tránh xa những điều tai hại đưa đến đau khổ, nhờ đó, giải thoát ra khỏi khổ đau an vui hạnh phúc ngay hiện tại và mai sau. - Lợi ích cho quyến thuộc: Dẫn dắt cho quyến thuộc thực hành các thiện sự và đưa đến lợi ích cao thượng nếu đầy đủ duyên lành. Khi Đức Thế Tôn thành đạt đạo quả Toàn giác là đạt lợi ích cho chính mình. Sau đó, Ngài đem giáo pháp giảng dạy cho tất cả chúng sinh, đem lợi ích cho đời và luôn cả quyến thuộc. Ngài tiếp độ tất cả chúng sinh, không phân biệt người thân kẻ sơ, nếu chúng sinh ấy hữu duyên. Dưới mắt Ngài, tất cả chúng sinh đều đáng thương xót như nhau. Ngài đã thể hiện ba ân đức cao cả của bậc Chánh đẳng giác, đó là: Trí đức, Tịnh đức, và Bi đức, trong đó, Bi đức là nỗi bậc nhất trong việc hoằng hóa độ sanh. 1. Vì lợi ích cho muôn loài: Ba lợi ích mà bậc Đâo-sư đem đến cho đời: - Lợi ích hiện tại: Khi tất cả chúng sinh sống theo tinh thần giáo pháp của Ngài thì ngay trong hiện tại tất cả sẽ sống trong hòa bình, trật tự mọi loài, sẽ đùm bọc thương tưởng lẫn nhau, người thực hành giáo Pháp cũng sẽ được an vui trong đời này. - Lợi ích trong đời vị lai: Nếu chúng sinh nào có đức tin chấp nhận thực hành theo giáo háp của bậc Đạo sư, chúng sinh đó được cảnh giới an vui chờ đón trong đời sau. - Lợi ích tối thượng: Nếu chúng sinh nào hiểu đúng và thực hành đúng lời dạy của Đức Phật, chúng sinh đó có thể đạt đến cứu cánh giải thoát. 2. Vì mục đích tiếp độ chúng sinh: Bậc Đạo sư có công năng tiếp độ mọi người theo từng trình độ cá tính của mỗi người. Giáo pháp của Ngài có thể đem ứng dụng trong mọi trường hợp hoàn cảnh, như vị lương y dựa vào bệnh trạng của bệnh nhân mà cho đơn thuốc thích hợp với từng chứng bệnh. 3. Vì hạnh phúc của chúng sinh: Giáo pháp của bậc Đạo sư đem lại sự an lạc cho đời, thành quả an lạc luôn tương xứng với sự thực hành của mỗi cá nhân. Ngài thuyết giảng luôn chú trọng vào 3 đặc chuẩn: - Luôn đặt trọng tâm vào việc nâng cao trình độ, đối tượng. Ngài biết rõ người nghe có pháp tánh nào trội hơn, trí tuệ, đức tin, chánh niệm... thì Ngài thuyết pháp thích ứng với cá tánh đó theo đề tài đó, cho họ hiểu biết sâu sắc hơn, nhằm nâng cao hiểu biết của đề tài đó cho đúng đắn và rốt ráo hơn. 1. Ngài luôn hệ thống hóa và giáo khoa hóa đề tài thuyết giảng cho người nghe dễ hiểu mau lãnh hội hơn. Ngài rất linh động trong việc dùng hình ảnh chứng minh vấn đề mà mình thuyết giảng. 2. Ngài biết tập trung vào những điểm chính yếu, nên những thời pháp của Ngài có công năng đặc biệt, người nghe pháp hành theo mức độ bao nhiêu thì được lợi ích bấy nhiêu. Việc thiết lập một hệ thống giáo pháp toàn hảo như Đức Phật đã thực hiện, quả là thiên năng vạn năng đòi hỏi một trình độ tinh vi sâu sắc vô cùng. - Hạnh sự hằng ngày: Mỗi ngày bậc Đạo sư phải chia thời giờ ra năm phận sự: 1. Buổi sáng, Ngài đi khất thực để chúng sinh có cơ hội tạo phước nơi Ngài. 2. Buổi chiều, Ngài thuyết pháp cho mọi người. 3. Buổi tối, Ngài giáo giới chư Tăng. 4. Buổi khuya, Ngài giảng pháp và trả lời các thắc mắc cho chư thiên. 5. Buổi rạng đông, Ngài dùng Phật nhãn để xem xét khắp tam giới, tìm người hữu duyên đáng được Ngài tế độ hôm ấy. - Hạnh sự tế độ quyến thuộc: Bậc Đạo sư có lòng bi mẫn thương tưởng đến quyến thuộc, như tìm những người thân trước kia đang theo ngoại đạo, Ngài hướng dẫn cho vào tu tập trong Phật giáo, hay tế độ hoàng tộc có đức tin trong nghiệp quả. - Hạnh sự nhắm đến Phật tuệ: Ngài dùng trí tuệ của mình để tiếp độ người khác vào giáo pháp. Những người đến gặp Đức Phật gồm đủ mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội, từ vua quan cho đến hàng tiện dân, và mục đích của họ gặp Ngài cũng khác nhau, có người đến tán thán công đức tìm hiểu giáo pháp, không ít khi những trường hợp có người ỷ tài cao trí rộng muốn đến cật vấn hay những ngoại đạo sư ganh ghét mong hạ nhục hoặc hãm hại Ngài. Ngài luôn ôn tồn dùng pháp nghĩa ứng đáp, rồi giáo hóa cho họ có đức tin vào nghiệp quả, trở thành những người hiền thiện nhu hòa. Đối với những người đến vấn đạo Ngài trả lời theo bốn cách. 1. Trả lời dứt khoát vấn đề đó tốt hay xấu, nên hay không nên. 2. Trả lời bằng cách phân tích, nêu rõ ra từng chi tiết chính yếu để họ tự hiểu lấy. 3. Trả lời bằng cách đưa ra vấn đề và hỏi ngược lại khi họ giải đáp câu hỏi của Ngài đặt ra thì hiểu ngay điều họ thắc mắc. 4. Trả lời bằng cách tạm gác qua một bên đối với câu hỏi vớ vẩn không đem đến lợi ích. Bởi Ngài chỉ nói chân lý, đúng pháp hữu ích, đúng thời dầu cho người nghe thích hay không thích. Trong phương pháp thuyết giáo Đức Thế Tôn dựa trên: 1. Ngài vẫn nhìn nhận những vấn đề hợp lý đã có từ trước hay đương thời khi những quan điểm ấy đem lại lợi ích cho người nghe. 2. Trong pháp giáo hóa cũng nương nhờ vào sở kiến của chúng sinh mà thuyết. Nhờ vậy, người nghe dễ dàng thâm nhập lãnh hội pháp nghĩa. Đối với người ham thích thụ hưởng khoái lạc, Ngài dạy: “Cuộc sống truỵ lạc hưởng thụ là cuộc sống mà bậc xuất gia không nên thực hiện”. Với người cho rằng khổ hạnh là pháp cao quý, Đức Phật giải thích sự kham nhẫn chính là pháp nhiệt cao quý. Có người cho rằng phạm thiên là thiêng liêng tối thượng, Ngài giảng: “Níp-bàn là hạnh phúc tối thượng”. Với kẻ chủ trương sát vật tế thần Ngài giảng dạy: “Dù sát hại một sinh vật lớn hay nhỏ, đều có tội lỗi”. Đó là kỷ năng tùy cơ ứng thuyết trong khi giáo hóa của bậc Đạo sư. 3. Đôi khi, Ngài cũng phương tiện hóa đường lối hoằng dương bằng cách sử dụng một so cổ tục quy cũ có lợi ích. Về từ ngữ thuyết giáo, Ngài sử dụng một số danh từ có sẵn trong xã hội, nhưng ý nghĩa thì dựa trên tinh thần quan điểm chánh pháp để việc hoằng hóa dễ dàng, bởi chúng thực tế thông dụng. 4. Trong cuộc sống hoằng hóa, Đạo sư phải đưa ra nền tảng giáo pháp của một đấng Chánh đẳng giác mà đương thời không ai có thể thuyết giảng. Đó là: tứ diệu đế, lý duyên sinh, pháp vô ngã, Níp-bàn; đó là những điểm đặc trưng của Phật giáo. Khi Đức Phật còn tại thế thì việc hoằng pháp gặp nhiều thuận lợi do: - Ngài xuất thân từ dòng dõi Ariyan, họ rất rành về nhân tướng, biết chắc Ngài là bậc Chánh đẳng giác, nên quy ngưỡng theo rất đông. - Được vua chúa các xứ quy ngưỡng trở thành những cận sự nam hết lòng hộ pháp, nên việc xuyễn dương giáo pháp phát triển và lan tỏa khắp các xứ. Nhưng Đức Thế Tôn không bao giờ vay mượn oai quyền để quảng bá giáo pháp; chính Trí đức, Bi đức, Tịnh đức của Ngài đã thừa khả năng làm việc ấy. -ooOoo- |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Chân thành cám ơn đạo hữu Huyền Thanh đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 09-2006).
[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 10-10-2006