Đàm luận Phật Pháp
- 156 -

Con đường thẳng tới chứng ngộ - Chương 5

ĐIỆP KHÚC TRONG BÀI KINH LẬP NIỆM

1-bia_mucluc.jpg
1-bia_mucluc.jpg
1611 * 789
2-sati_tomtat.jpg
2-sati_tomtat.jpg
1346 * 930
3-vaitro_niem.jpg
3-vaitro_niem.jpg
1306 * 789
4-niem_dinh.jpg
4-niem_dinh.jpg
1130 * 768
5-thanh5can.jpg
5-thanh5can.jpg
1365 * 834
6-mucluc5.jpg
6-mucluc5.jpg
1335 * 863
7-canban.jpg
7-canban.jpg
1165 * 760
8-trongngoai.jpg
8-trongngoai.jpg
1085 * 867
9-sinhdiet.jpg
9-sinhdiet.jpg
1238 * 855
10-duyen_sinh.jpg
10-duyen_sinh.jpg
1338 * 928
11-duyen_sinh2.jpg
11-duyen_sinh2.jpg
1139 * 794
12-duyenhe.jpg
12-duyenhe.jpg
1321 * 901
13-bandocusi.jpg
13-bandocusi.jpg
1262 * 812
14-ghinhan.jpg
14-ghinhan.jpg
1184 * 837
15-doclap.jpg
15-doclap.jpg
1163 * 874
99-wheel1.jpg
99-wheel1.jpg
1521 * 1433
99-wheel2.jpg
99-wheel2.jpg
1849 * 1743
99-wheel3.jpg
99-wheel3.jpg
640 * 854

 

Tham khảo:
  1. Satipaṭṭhāna: Con Đường Thẳng Tới Chứng Ngộ, Cư sĩ Nguyễn Văn Ngân dịch (2017) - http://budsas.net/sach/vn43.pdf
     
  2. Satipaṭṭhāna: The Direct Path to Realization, Bhikkhu Analayo (2004) - http://budsas.net/sach/en41.zip  (dạng nén Zip, cần phải giải nén trước khi đọc)
     
  3. Phụ đính: MN 10 Satipatthana-sutta, in: A Comparative Study of the Majjhima-Nikaya, Bhikkhu Analayo (2011) - http://budsas.net/sach/en140.pdf
     
  4. Perspectives on Satipaṭṭhāna, Bhikkhu Analayo (2013) - http://budsas.net/sach/en141.zip  (dạng nén Zip, cần phải giải nén với mật khẩu trước khi đọc)

 

Ba bài tham luận về NIỆM trong kinh điển nguyên thủy -- theo tôi -- trình bày nghiêm túc, có dẫn chứng đầy đủ:
  1. Bhikkhu Bodhi. What does mindfulness really mean? (2011)
    (Niệm thật sự nghĩa là gì?)
    http://budsas.net/sach/en142.pdf
     
  2. Gethin, Rupert. On some definitions of mindfulness (2011)
    (Về vài định nghĩa của Niệm)
    http://budsas.net/sach/en143.pdf
     
  3. Bhikkhu Analayo. Mindfulness in Early Buddhism (2014)
    (Niệm trong Phật giáo Sơ kỳ)
    http://budsas.net/sach/en144.pdf

 

Tiến trình tu tập của hàng cư sĩ tại gia

Sợ hãi và hận thù (AN 10.92)

Bấy giờ có Gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Thế Tôn, ... Thế Tôn nói với Gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi xuống một bên:

—Này Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử làm cho lắng dịu năm sợ hãi hận thù, thành tựu bốn chi phần Dự lưu, khéo thấy, khéo thể nhập thánh lý với trí tuệ; nếu vị ấy muốn, có thể tự trả lời về mình rằng: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sinh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; Ta đã đoạn tận các cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ.”

Thế nào là năm sợ hãi hận thù được làm cho lắng dịu?
(1) Này Gia chủ, sát sinh, do duyên sát sinh tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sinh, không tạo ra sợ hãi hận thù trong hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù ngay trong tương lai, không khiến tâm cảm thọ khổ ưu. Người từ bỏ sát sinh, làm lắng dịu sợ hãi hận thù này.
(2) ... lấy của không cho...
(3) ... tà hạnh trong các dục...
(4) ... nói láo...
(5) ... đắm say trong rượu men, rượu nấu; do duyên đắm say trong rượu men, rượu nấu, tạo ra sợ hãi hận ngay trong hiện tại, tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Người từ bỏ đắm say trong rượu men, rượu nấu, không tạo ra sợ hãi thù hận ngay hiện tại, không tạo ra sợ hãi hận thù trong tương lai, không khiến cảm thọ khổ ưu về tâm. Với người từ bỏ đắm say rượu men, rượu nấu, như vậy sợ hãi hận thù này được lắng dịu.

Năm sợ hãi hận thù này được lắng dịu.

Thế nào là thành tựu bốn Dự lưu phần?
(1) Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là Thế Tôn, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn”.
(2) Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp: “Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu”.
(3) Vị ấy thành tựu tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: “Diệu hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Trực hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Ứng lý hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn; Chân chánh hạnh là chúng đệ tử Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử Thế Tôn đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được đảnh lễ, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời.”
(4) Vị ấy thành tựu với những giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hủy, không bị bể vụn, không bị điểm chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được bậc trí tán thán, không bị chấp trước, đưa đến Thiền định.

Ðây là thành tựu bốn chi phần Dự lưu này.

Thế nào là Thánh lý được khéo thấy, khéo thể nhập với trí tuệ?
Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử quán sát như sau: “Do cái này có, cái kia có. Do cái này sinh, cái kia sinh. Do cái này không có, cái kia không có. Do cái này diệt, cái kia diệt. Tức là do duyên vô minh, có các hành. Do duyên các hành có thức. Do duyên thức có danh sắc. Do duyên danh sắc có sáu nhập. Do duyên sáu nhập có xúc. Do duyên xúc có thọ. Do duyên thọ có ái. Do duyên ái có thủ. Do duyên thủ có hữu. Do duyên hữu có sinh. Do duyên sinh có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não. Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Do vô minh diệt không có dư tàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu nhập diệt. Do sáu nhập diệt nên xúc diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sinh diệt. Do sinh diệt nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt. Ðây là Thánh lý được khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ.”

Này Gia chủ, khi nào với vị Thánh đệ tử, năm sợ hãi hận thù này được lắng dịu, bốn Dự lưu phần này được thành tựu, và Thánh lý này được khéo thấy và khéo thể nhập với trí tuệ, nếu muốn, vị ấy có thể tự mình trả lời về mình rằng: “Ta đã đoạn tận địa ngục; ta đã đoạn tận bàng sinh; ta đã đoạn tận ngạ quỷ; ta đã đoạn tận cõi dữ, ác thú, đọa xứ; ta đã chứng được Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng đạt cứu cánh giác ngộ.”

*

 

BỐN PHÁP LẬP NIỆM
Kinh Lập Niệm
Satipaṭṭhāna Sutta, MN 10

*

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở xứ Kuru (Câu-lâu), tại thị trấn Kammāsadhamma (Kiềm-ma Sắt-đàm) của người Kuru. Rồi Thế Tôn gọi các tỳ-khưu: – Này các tỳ-khưu. Các tỳ-khưu vâng đáp Thế Tôn: – Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết như sau:

[CON ĐƯỜNG NHẤT HƯỚNG, TRỰC TIẾP]
– Này các tỳ-khưu, đây là con đường nhất hướng để thanh tịnh hóa chúng sinh, vượt khỏi sầu não và khổ ưu, thành tựu chánh đạo, chứng ngộ Niết-bàn – đó là bốn pháp lập niệm.

[ĐỊNH NGHĨA]
Thế nào là bốn? Này các tỳ-khưu, tỳ-khưu sống quán thân như thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ như các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm như tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp như các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, niệm, chế ngự tham ưu ở đời.

[QUÁN HƠI THỞ]
Và này các tỳ-khưu, thế nào là tỳ-khưu sống quán thân như thân? Ở đây, tỳ-khưu đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi xuống. Sau khi xếp tréo chân, lưng thẳng và an trú niệm trước mặt, vị ấy thở vô với ghi nhận rõ ràng, vị ấy thở ra với ghi nhận rõ ràng.

Thở vô dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vô dài”; hay thở ra dài, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra dài”; hay thở vô ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở vô ngắn”; hay thở ra ngắn, vị ấy biết rõ: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập; “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

Như người thợ quay thiện xảo, hay học trò của người ấy, khi quay vòng dài, biết rõ: “Tôi quay vòng dài”; hay khi quay vòng ngắn, biết rõ: “Tôi quay vòng ngắn”. Cũng vậy, tỳ-khưu thở vô dài, biết rõ: “Tôi thở vô dài”;... “An tịnh toàn thân, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thân như thân bên trong hay sống quán thân như thân bên ngoài; hay sống quán thân như thân bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi trong thân; hay sống quán tính diệt tận trong thân; hay sống quán tính sinh và diệt trong thân. Hay niệm “có thân đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thân như thân.

[CÁC OAI NGHI]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu đi, biết rõ: “Tôi đi”; hay đứng, biết rõ: “Tôi đứng”; hay ngồi, biết rõ: “Tôi ngồi”; hay nằm, biết rõ: “Tôi nằm”. Thân thể ở oai nghi như thế nào, vị ấy biết rõ thân như thế ấy.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thân như thân bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong thân … sinh và diệt trong thân. Hay niệm “có thân đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thân như thân.

[CÁC SINH HOẠT]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm; khi nhìn tới nhìn lui, biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mặc và mang y, mang bát, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức dậy, nói, giữ im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thân như thân bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong thân … sinh và diệt trong thân. Hay niệm “có thân đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thân như thân.

[CÁC BỘ PHẬN CƠ THỀ]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu quán sát thân này, từ bàn chân trở lên, từ đỉnh tóc trở xuống, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau, như sau: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn trong dạ dầy, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, và nước tiểu”.

Cũng như một bao chứa mở hai đầu đựng đầy các loại hạt như gạo đỏ, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo trắng. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: “Ðây là gạo đỏ, đây là lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là gạo trắng”. Cũng vậy, tỳ-khưu quán sát thân này ... chứa đầy những vật bất tịnh khác nhau, như sau: “Ðây là tóc, lông, ... nước tiểu”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thân như thân bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong thân … sinh và diệt trong thân. Hay niệm “có thân đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thân như thân.

[CÁC PHẦN TỬ]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu quán sát thân này, ở bất cứ vị trí hay oai nghi nào, chỉ gồm có các phần tử: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.

Như một người đồ tể thiện xảo, hay học trò của người ấy, giết một con bò rồi ngồi cắt chia từng phần tại ngã tư đường. Cũng vậy, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu quán sát thân này, ở bất cứ vị trí hay oai nghi nào, chỉ gồm có các phần tử: “Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thân như thân bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong thân … sinh và diệt trong thân. Hay niệm “có thân đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thân như thân.

[TỬ THI SÌNH THỐI]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, như thể khi thấy một tử thi bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày đã chết, trương phồng lên, xanh đen lại, rữa nát, … bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài giòi bọ ăn, … bộ xương còn dính thịt và máu, được các đường gân cột lại, ... bộ xương không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại, ... với bộ xương không còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại, ... chỉ còn các khúc xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia, … xương trắng màu vỏ ốc, ... xương chất đống đã hơn một năm, ... xương đã mục nát thành bột, tỳ-khưu quán thân ấy như sau: “Thân này là như vậy, bản chất là như vậy, là điều tất yếu không ngoại lệ”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thân như thân bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong thân … sinh và diệt trong thân. Hay niệm “có thân đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thân như thân.

[CÁC CẢM THỌ]
Này các tỳ-khưu, như thế nào là tỳ-khưu sống quán thọ như các thọ? Ở đây tỳ-khưu khi cảm giác lạc thọ, biết rõ: “Tôi cảm giác lạc thọ”; khi cảm giác khổ thọ, biết rõ: “Tôi cảm giác khổ thọ”; khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, biết rõ: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ”.

Hay khi cảm giác lạc thọ hiệp thế, biết rõ: “Tôi cảm giác lạc thọ hiệp thế”; hay khi cảm giác lạc thọ xuất thế, biết rõ: “Tôi cảm giác lạc thọ xuất thế”. Hay khi cảm giác khổ thọ hiệp thế, biết rõ: “Tôi cảm giác khổ thọ hiệp thế”; hay khi cảm giác khổ thọ xuất thế, biết rõ: “Tôi cảm giác khổ thọ xuất thế”. Hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ hiệp thế, biết rõ: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ hiệp thế”; hay khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ xuất thế, biết rõ: “Tôi cảm giác bất khổ bất lạc thọ xuất thế”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán thọ như các thọ bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong thọ … sinh và diệt trong thọ. Hay niệm “có thọ đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán thọ như các thọ.

[TÂM]
Này các tỳ-khưu, như thế nào là tỳ-khưu sống quán tâm như tâm? Ở đây, tỳ-khưu với tâm có tham, biết rõ: “Tâm có tham”; hay với tâm không tham, biết rõ: “Tâm không tham”. Hay với tâm có sân, biết rõ: “Tâm có sân”; hay với tâm không sân, biết rõ: “Tâm không sân”. Hay với tâm có si, biết rõ: “Tâm có si”; hay với tâm không si, biết rõ: “Tâm không si”. Hay với tâm thu hẹp, biết rõ: “Tâm thu hẹp”. Hay với tâm tán loạn, biết rõ: “Tâm tán loạn”. Hay với tâm quảng đại, biết rõ: “Tâm quảng đại”; hay với tâm không quảng đại, biết rõ: “Tâm không quảng đại”. Hay với tâm hạ liệt, biết rõ: “Tâm hạ liệt”. Hay với tâm vô thượng, biết rõ: “Tâm vô thượng”. Hay với tâm có định, biết rõ: “Tâm có định”; hay với tâm không định, biết rõ: “Tâm không định”. Hay với tâm giải thoát, biết rõ: “Tâm giải thoát”; hay với tâm không giải thoát, biết rõ: “Tâm không giải thoát”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán tâm như tâm bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong tâm … sinh và diệt trong tâm. Hay niệm “có tâm đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán tâm như tâm.

[CÁC TRIỀN CÁI]
Này các tỳ-khưu, thế nào là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp? Ở đây, tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với năm triền cái. Và thế nào là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với năm triền cái?

Ở đây, khi trong tâm có tham dục, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có tham dục”; hay trong tâm không có tham dục, biết rõ: “Trong tâm tôi không có tham dục”. Và vị ấy biết rõ như thế nào tham dục chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào tham dục đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với tham dục đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Khi trong tâm có sân hận, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có sân hận”; hay trong tâm không có sân hận, biết rõ: “Trong tâm tôi không có sân hận”. Và vị ấy biết rõ như thế nào sân hận chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào sân hận đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với sân hận đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Khi trong tâm có hôn trầm thụy miên, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có hôn trầm thụy miên”; hay trong tâm không có hôn trầm thụy miên, biết rõ: “Trong tâm tôi không có hôn trầm thụy miên”. Và vị ấy biết rõ như thế nào hôn trầm thụy miên chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào hôn trầm thụy miên đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với hôn trầm thụy miên đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Khi trong tâm có trạo hối, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có trạo hối”; hay trong tâm không có trạo hối, biết rõ: “Trong tâm tôi không có trạo hối”. Và vị ấy biết rõ như thế nào trạo hối chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào trạo hối đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với trạo hối đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Khi trong tâm có nghi ngờ, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có nghi ngờ”; hay trong tâm không có nghi ngờ, biết rõ: “Trong tâm tôi không có nghi ngờ”. Và vị ấy biết rõ như thế nào nghi ngờ chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào nghi ngờ đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với nghi ngờ đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán pháp như các pháp bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong pháp … sinh và diệt trong pháp. Hay niệm “có pháp đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với năm triền cái.

[CÁC UẨN]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với năm thủ uẩn. Và thế nào là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với năm thủ uẩn? Ở đây, tỳ-khưu suy tư: “Ðây là sắc, đây là sắc sinh khởi, đây là sắc tàn diệt. Ðây là thọ, đây là thọ sinh khởi, đây là thọ tàn diệt. Ðây là tưởng, đây là tưởng sinh khởi; đây là tưởng tàn diệt. Ðây là hành, đây là hành sinh khởi, đây là hành tàn diệt. Ðây là thức, đây là thức sinh khởi, đây là thức tàn diệt”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán pháp như các pháp bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong pháp … sinh và diệt trong pháp. Hay niệm “có pháp đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với năm uẩn.

[CÁC XỨ]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với sáu nội xứ và ngoại xứ. Và thế nào là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với sáu nội xứ và ngoại xứ?

Ở đây, tỳ-khưu biết rõ con mắt và biết rõ các sắc. Vị ấy biết rõ kiết sử sinh khởi do duyên hai pháp này; biết rõ như thế nào kiết sử chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào kiết sử đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với kiết sử đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Tỳ-khưu biết rõ tai và biết rõ các âm thanh. Vị ấy biết rõ kiết sử sinh khởi do duyên hai pháp này; biết rõ như thế nào kiết sử chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào kiết sử đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với kiết sử đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Tỳ-khưu biết rõ mũi và biết rõ các mùi hương. Vị ấy biết rõ kiết sử sinh khởi do duyên hai pháp này; biết rõ như thế nào kiết sử chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào kiết sử đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với kiết sử đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Tỳ khưu biết rõ lưỡi và biết rõ các vị nếm. Vị ấy biết rõ kiết sử sinh khởi do duyên hai pháp này; biết rõ như thế nào kiết sử chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào kiết sử đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với kiết sử đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Tỳ-khưu biết rõ thân và biết rõ các chạm xúc. Vị ấy biết rõ kiết sử sinh khởi do duyên hai pháp này; biết rõ như thế nào kiết sử chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào kiết sử đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với kiết sử đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

Tỳ-khưu biết rõ ý và biết rõ các đối tượng của ý. Vị ấy biết rõ kiết sử sinh khởi do duyên hai pháp này; biết rõ như thế nào kiết sử chưa sinh, nay sinh khởi; biết rõ như thế nào kiết sử đã sinh, nay được đoạn diệt; và biết rõ như thế nào với kiết sử đã được đoạn diệt, trong tương lai không sinh khởi nữa.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán pháp như các pháp bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong pháp … sinh và diệt trong pháp. Hay niệm “có pháp đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với sáu nội xứ và ngoại xứ.

[CÁC GIÁC CHI]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với bảy giác chi. Và thế nào là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với bảy giác chi?

Ở đây, khi trong tâm có niệm giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có niệm giác chi”; hay trong tâm không có niệm giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có niệm giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào niệm giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào niệm giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

Khi trong tâm có trạch pháp giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có trạch pháp giác chi”; hay trong tâm không có trạch pháp giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có trạch pháp giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào trạch pháp giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào trạch pháp giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

Khi trong tâm có tinh tấn giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có tinh tấn giác chi”; hay trong tâm không có tinh tấn giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có tinh tấn giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào tinh tấn giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào tinh tấn giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

Khi trong tâm có khinh an giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có khinh an giác chi”; hay trong tâm không có khinh an giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có khinh an giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào khinh an giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào khinh an giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

Khi trong tâm có hỷ giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có hỷ giác chi”; hay trong tâm không có hỷ giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có hỷ giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào hỷ giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào hỷ giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

Khi trong tâm có định giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có định giác chi”; hay trong tâm không có định giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có định giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào định giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào định giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

Khi trong tâm có xả giác chi, tỳ-khưu biết rõ: “Trong tâm tôi có xả giác chi”; hay trong tâm không có xả giác chi, biết rõ: “Trong tâm tôi không có xả giác chi”. Vị ấy biết rõ như thế nào xả giác chi chưa sinh, nay sinh khởi; và biết rõ như thế nào xả giác chi đã sinh, nay được tu tập viên thành.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán pháp như các pháp bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong pháp … sinh và diệt trong pháp. Hay niệm “có pháp đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với bảy giác chi.

[CÁC THÁNH ĐẾ]
Lại nữa, này các tỳ-khưu, vị ấy sống quán pháp như các pháp đối với bốn thánh đế. Và thế nào là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với bốn thánh đế?

Ở đây, tỳ-khưu biết rõ như thật: “Ðây là khổ”; biết rõ như thật: “Ðây là nguồn gốc của khổ”; biết rõ như thật: “Ðây là sự đoạn diệt khổ”; biết rõ như thật: “Ðây là con đường đưa đến đoạn diệt khổ”.

[ĐIỆP KHÚC]
Bằng cách ấy, vị ấy sống quán pháp như các pháp bên trong … bên ngoài … bên trong và bên ngoài. Hay vị ấy sống quán tính sinh khởi … diệt tận trong pháp … sinh và diệt trong pháp. Hay niệm “có pháp đây”được thiết lập nơi vị ấy với mức độ cần thiết để hiểu biết và ghi nhớ đầy đủ. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp điều gì trên đời. Như vậy là tỳ-khưu sống quán pháp như các pháp đối với bốn thánh đế.

[TIÊN ĐOÁN]
Này các tỳ-khưu, vị nào tu tập bốn pháp lập niệm này như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn chút dư tàn bám thủ thì chứng quả bất lai.

Này các tỳ-khưu, không cần gì đến bảy năm, vị nào tu tập bốn pháp lập niệm này như vậy trong sáu năm,... trong năm năm,... trong bốn năm,... trong ba năm,... trong hai năm,... trong một năm, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn chút dư tàn bám thủ thì chứng quả bất lai.
Này các tỳ-khưu, không cần gì đến một năm, vị nào tu tập bốn pháp lập niệm này như vậy trong bảy tháng,... trong sáu tháng,... trong năm tháng,... trong bốn tháng,... trong ba tháng,... trong hai tháng,... trong một tháng,... trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn chút dư tàn bám thủ thì chứng quả bất lai.

Này các tỳ-khưu, không cần gì nửa tháng, vị nào tu tập bốn pháp lập niệm này như vậy trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng một trong hai quả sau đây: chứng chánh trí ngay trong hiện tại, hay nếu còn chút dư tàn bám thủ thì chứng quả bất lai.

[CON ĐƯỜNG NHẤT HƯỚNG, TRỰC TIẾP]
Này các tỳ-khưu, đây là con đường nhất hướng để thanh tịnh hóa chúng sinh, vượt khỏi sầu não và khổ ưu, thành tựu chánh đạo, chứng ngộ Niết-bàn – đó là bốn pháp lập niệm.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

--(MN 10, Kinh Lập Niệm - Satipaṭṭhāna Sutta)

* * *

[ Home ]

26-01-2018