Đàm luận Phật Pháp
- 321 -

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

21. SỨC MẠNH CỦA NỘI QUÁN LÚC LÂM CHUNG  

 
1-mucluc21.jpg
1-mucluc21.jpg
1254 * 931
2-3kinh.jpg
2-3kinh.jpg
1231 * 813
3-5uan6xu.jpg
3-5uan6xu.jpg
1268 * 894
4-luachay.jpg
4-luachay.jpg
1393 * 837
5-nhanthuc.jpg
5-nhanthuc.jpg
1302 * 871
6-108tho.jpg
6-108tho.jpg
1265 * 869

 

XXI

21. SỨC MẠNH CỦA NỘI QUÁN LÚC LÂM CHUNG      
Bhikkhu Anālayo, Mindfully facing disease and death (2017)

XXI.1 GIỚI THIỆU

Bài kinh trong chương này một lần nữa ghi lại lòng từ bi của Đức Phật. Lần này Ngài đến thăm một tỳ-khưu mới thọ giới và chưa có đủ thời gian để thiết lập mối quan hệ mật thiết với các bạn đồng tu hay với các cư sĩ hộ tăng. Bệnh tình của vị nầy tương tự như trường hợp một người phải nhập viện nhưng không có người thân hay bạn bè đến thăm viếng thường xuyên, và như thế bệnh nhân ấy cần có thêm sự hỗ trợ và lòng tử tế của các y tá và bác sĩ để chăm sóc người ấy.

Bài kinh được dịch dưới đây là bài đầu tiên của hai bài kinh trong Tạp A-hàm (SĀ 1025, 1026) ghi lại câu chuyện Đức Phật đi thăm một tỳ-khưu vô danh, đã xuất gia gần đây. Mỗi bài kinh này đều có bài kinh tương ứng trong Tương ưng bộ (SN 35.74, 35.75).

XXI.2 KINH VĂN

(xem phần kinh văn bên dưới)

XXI.3 THẢO LUẬN

Bài kinh trong chương này một lần nữa cho thấy tiềm năng giải thoát lúc lâm chung. Bài kinh trong chương trước, Chương 20, nhấn mạnh sự kiện một người trước đó khi còn khỏe mạnh đã không diệt trừ được năm hạ phần kiết sử thì khi đến giờ phút lâm chung có thể đọan tận chúng, hoặc nếu đã diệt trừ được rồi thì có thể tiến đến giải thoát hoàn toàn. Trong trường hợp của bài kinh ở đây trong Chương 21 này, toàn bộ tiến trình từ lúc còn là một phàm nhân cho đến lúc hoàn toàn giải thoát đã xảy ra trong giờ phút lâm chung. Trường hợp này có thể xem như bổ sung thêm cho câu chuyện ghi trong Chương 18, một đệ tử cư sĩ cũng có khả năng giải thoát như một tu sĩ hoàn toàn giác ngộ qua sự tự do thoát khỏi mọi chấp thủ tại thời điểm cận kề cái chết. Tất cả những bài kinh như thế là để chỉ tiềm năng mạnh mẽ của tuệ giác lúc mệnh chung.

Phương thức không chấp thủ trình bày trong bài kinh và bản Pali tương ứng dựa trên sáu nội và ngoại xứ, hay sáu căn và sáu trần, được sử dụng trong hai phiên bản theo những cách khác nhau để để vun trông tuệ giác. Sáu nội ngoại xứ ấy là:

• Mắt và các hình sắc,
• Tai và các âm thanh,
• Mũi và các mùi hương,
• Lưỡi và các vị nếm,
• Thân và các vật xúc chạm,
• Ý và các đối tượng của ý.

Điểm cơ bản đằng sau sự phân tích này là cho thấy bản chất tổng hợp và do đó có tính chất điều kiện của các trải nghiệm. Mọi trải nghiệm khác nhau được phân tích theo cách tiếp xúc và nhận thức qua mỗi căn (nội xứ) và trần (ngoại xứ). Đáng chú ý ở đây là ý căn và đối tượng được xem như ngang bằng với năm căn vật lý, thay vì xem chúng là vượt trội hơn năm căn kia. Bằng cách lần lượt khảo sát từng cặp căn và trần, tính điều kiện hay duyên sinh của mọ trải nghiệm có thể được ghi nhận dễ dàng hơn.

Theo phiên bản trong Tương ưng bộ (SN 35.74), tiếp theo đó, hành giả phải quán sát tính vô thường của mỗi cặp căn-trần. Dựa vào đó, hành giả sẽ nhận ra được rằng cái gì có bản chất vô thường, thay đổi là khổ, và cái gì là khổ thì không đáng để xem “đây là của tôi, đây là tôi, đây là cái ngã của tôi.” Đây là theo phương thức phát triển tuệ quán về ba đặc tướng của đời sống như đã thảo luận ở Chương 17.

Trong bài kinh của Tạp A-hàm (SĀ 1025), bản chất duyên sinh của cảm thọ được nhấn mạnh, khởi sinh do sự tiếp xúc qua sáu căn. Tính duyên sinh này được thấy rõ ràng hơn qua sự tương phản khi không có sự hiện diện của cảm thọ vì không có sự hiện diện của các điều kiện cho nó sinh khởi. Tầm quan trọng của giải trình về sự không hiện diện trong phiên bản Tạp A-hàm có thể dễ dàng được đánh giá quá thấp vì cho rằng đó chỉ là để bổ sung cho phần giải trình của các đoạn trước về sự hiện hữu của các cảm giác, v.v. Tầm quan trọng của giải trình này sẽ được nhận ra khi chúng ta xem đó là chỉ về hướng Niết-bàn, khi các căn và các đối tượng đều vắng mặt, cũng như bất kỳ cảm thọ nào. Nếu hiểu như thế, lời giảng dạy của Đức Phật trong bài kinh tiến hành từ việc giải trình tính duyên sinh của các trải nghiệm cảm thọ để đưa tâm đến đối tượng vô vi, cả hai đều là một phần của một hướng dẫn có chứcc năng rõ ràng như là một hướng dẫn hành thiền.

Trên quan điểm áp dụng thực tế, hành giả có thể kết hợp cả hai phương pháp như được trình bày trong bài kinh ở Tạp A-hàm và ở Tương ưng bộ. Trước hết, hành giả phải nhận ra rõ ràng rằng bất kỳ cảm thọ nào được trải nghiệm cũng là sản phẩm do duyên sinh từ một giác quan nào đó với sự nhận thức tương ứng. Cái gì do duyên sinh, nghĩa là có điều kiện, cái đó có tính vô thường, thay đổi. Bơi vì nó có tình vô thường, nó không thể mang lại sự hài lòng lâu dài, và vì thế không thích hợp để nhận đó là tôi hay để chiếm hữu nó là của tôi. Dựa vào tuệ quán đó, hành giả hướng tâm đến cái vô vi, không điều kiện. Tu tập hướng tâm như thế trong giờ phút lâm chung, sau khi phân tích tỉ mỉ những trải nghiệm thành các đơn vị cấu tạo như thế và phát khởi tuệ quán sâu sắc về bản chất của chúng, có khả năng sẽ tạo ra một tiềm năng giải thoát to lớn.

* * *

 

SĀ 1025
TẬT BỆNH
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản Anh dịch của Bhikkhu Anālayo


Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một tỳ-khưu tuổi trẻ mới học, xuất gia trong pháp và luật này chưa được lâu, ít người thân quen, một mình làm lữ khách, không có người cung cấp, đang trú ở nhà dành cho khách tăng ngoài rìa xóm làng, bệnh đau nguy khốn.

Bấy giờ có một nhóm tỳ-khưu đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, có một tỳ-khưu tuổi trẻ mới học, xuất gia trong pháp và luật này chưa được lâu, ít người thân quen, một mình làm lữ khách, không có người cung cấp, đang trú ở nhà dành cho khách tăng ngoài rìa xóm làng, bệnh đau nguy khốn. Trong số những tỳ-khưu có bệnh nguy khốn như thế, nhiều người đã chết, không sống nổi. Lành thay! Xin Thế Tôn vì thương xót mà đến viếng trú xứ đó.”

Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Buổi chiều, sau khi từ thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến trú xứ này. Tỳ-khưu bị bệnh này từ xa trông thấy Thế Tôn, vịn giường muốn ngồi dậy.

Phật bảo tỳ-khưu: “Hãy nằm nghỉ, chớ ngồi dậy! Tỳ-khưu có thể chịu đựng được khổ đau không?”

Tỳ-khưu bạch Phật: “Bệnh của con không thuyên giảm và thân con không được an ổn; các thứ khổ bức bách càng tăng thêm, không giảm bớt. Giống như người có nhiều sức mạnh bắt lấy người gầy yếu đuối, dùng dây trói chặt vào đầu rồi dùng hai tay siết chặt làm cho đau đớn vô cùng. Hiện tại sự đau đớn của con còn hơn thế nữa.

“Giống như tên đồ tể dùng dao bén mổ bụng bò lấy nội tạng nó ra. Làm sao con bò ấy chịu đựng được sự đau đớn ở bụng? Hiện tại bụng của con còn đau đớn hơn thế nữa.

“Giống như hai lực sĩ bắt một người yếu đuối treo lên trên lửa rồi đốt hai chân. Hiện tại hai chân của con còn nóng hơn thế nữa. Bệnh khổ của con chỉ gia tăng, không giảm bớt.”

Phật bảo tỳ-khưu bị bệnh: “Bây giờ Ta hỏi ông, cứ đáp cho Ta theo ý của ông. Ông có hối hận về điều gì chăng?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, thật sự, con có hối hận.”

Phật bảo tỳ-khưu bị bệnh: “Ông có phạm giới chăng?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, thật sự, con không phạm giới.”

Phật bảo tỳ-khưu bị bệnh: “Nếu ông không phạm giới, tại sao ông lại hối hận?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Con tuổi trẻ xuất gia chưa bao lâu, đối với pháp thượng nhân và tri kiến thắng diệu chưa có sở đắc. Con tự nghĩ, lúc mệnh chung không biết sẽ sinh về nơi đâu? Cho nên con sinh ra hối hận.”

Phật bảo tỳ-khưu bị bệnh: “Nay Ta hỏi ông, cứ đáp cho Ta theo ý của ông. Vì có mắt nên có nhãn thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Vì có nhãn thức nên có nhãn xúc, và do nhãn xúc làm nhân làm duyên nên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Vì có tai nên có nhĩ thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Vì có nhĩ thức nên có nhĩ xúc, và do nhĩ xúc làm nhân làm duyên nên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Vì có mũi nên có tỷ thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Vì có tỷ thức nên có tỷ xúc, và do tỷ xúc làm nhân làm duyên nên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Vì có lưỡi nên có thiệt thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Vì có thiệt thức nên có thiệt xúc, và do thiệt xúc làm nhân làm duyên nên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Vì có thân nên có thân thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Vì có thân thức nên có thân xúc, và do thân xúc làm nhân làm duyên nên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Vì có ý nên có ý thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Vì có ý thức nên có ý xúc, và do ý xúc làm nhân làm duyên nên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Nếu không có mắt thì không có nhãn thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Nếu không có nhãn thức thì không có nhãn xúc, và do đó, không có nhãn xúc làm nhân làm duyên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Nếu không có tai thì không có nhĩ thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Nếu không có nhĩ thức thì không có nhĩ xúc, và do đó, không có nhĩ xúc làm nhân làm duyên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Nếu không có mũi thì không có tỷ thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Nếu không có tỷ thức thì không có tỷ xúc, và do đó, không có tỷ xúc làm nhân làm duyên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Nếu không có lưỡi thì không có thiệt thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Nếu không có thiệt thức thì không có thiệt xúc, và do đó, không có thiệt xúc làm nhân làm duyên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Nếu không có thân thì không có thân thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Nếu không có thân thức thì không có thân xúc, và do đó, không có thân xúc làm nhân làm duyên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật hỏi tiếp: “Nếu không có ý thì không có ý thức, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.” Phật hỏi tiếp: “Nếu không có ý thức thì không có ý xúc, và do đó, không có ý xúc làm nhân làm duyên sinh ra cảm thọ khổ, hoặc lạc, hoặc không khổ không lạc bên trong, phải không?” Tỳ-khưu bị bệnh bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đúng vậy.”

Phật bảo tiếp: “Cho nên, tỳ-khưu, phải khéo tư duy pháp như vậy, thì lúc mệnh chung mới tốt đẹp được và đời sau cũng tốt đẹp.”

Bấy giờ, Thế Tôn vì tỳ-khưu bị bệnh mà nói pháp, chỉ dạy, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Sau khi Thế Tôn đi rồi, không lâu sau, tỳ-khưu mệnh chung. Khi sắp mệnh chung, các căn của tỳ-khưu ấy vui tươi, tướng mạo thanh tịnh, sắc da tươi sáng.

Lúc ấy, nhiều tỳ-khưu đi đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân, rồi ngồi lui qua một bên, bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, tỳ-khưu trẻ tuổi kia bị bệnh nguy khốn, nay đã mệnh chung. Khi vị ấy sắp qua đời, các căn vui tươi, tướng mạo thanh tịnh, sắc da tươi sáng. Bạch Thế Tôn, tỳ-khưu ấy sinh về nơi nào? Thọ sinh ra sao? Đời sau thế nào?”

Phật bảo các tỳ-khưu: “Sự mệnh chung của tỳ-khưu ấy thật sự là quý báu. Sau khi Ta nói Pháp, tỳ-khưu ấy hiểu biết rõ ràng, an trú vào Pháp và không còn sợ hãi, đã đắc Bát-niết-bàn. Các ông nên cung kính giữ gìn xá-lợi của vị ấy.”

Bấy giờ, Thế Tôn thọ ký cho tỳ-khưu ấy là bậc nhất. Phật nói kinh này xong, các tỳ-khưu nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.


SN 35.74
BỆNH (1)
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản Anh dịch của Bhikkhu Bodhi


Nhân duyên ở Sāvatthi. Rồi một tỳ-khưu đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, tỳ-khưu ấy bạch Thế Tôn: “Trong tịnh xá của chúng con, bạch Thế Tôn, có một tỳ-khưu mới thọ giới, ít người biết đến, bị bệnh hoạn, đau đớn, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến tỳ-khưu ấy vì lòng từ mẫn.”

Rồi Thế Tôn sau khi nghe những từ “mới thọ giới” và “bệnh”, và biết được tỳ-khưu ấy ít được người biết đến, liền đi đến tỳ-khưu ấy. Tỳ-khưu ấy thấy đức Phật từ xa đi đến, liền gượng dậy trên giường. Thế Tôn liền nói với tỳ-khưu ấy: “Thôi, này tỳ-khưu, ông chớ có gượng dậy trên giường. Có những chỗ ngồi đã soạn sẵn, Ta sẽ ngồi tại đấy.”

Rồi Thế Tôn ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với tỳ-khưu ấy: “Này tỳ-khưu, ông có kham nhẫn được không? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?”

“Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, không thể chịu đựng. Con cảm giác các khổ thọ rất mãnh liệt. Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không giảm thiểu.”

“Này tỳ-khưu, mong rằng ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận.”

“Bạch Thế Tôn, con có nhiều nghi ngờ, nhiều hối hận.”

“Này tỳ-khưu, mong rằng ông không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận về giới hạnh của mình.”

“Bạch Thế Tôn, con không có gì nghi ngờ, không có gì hối hận về giới hạnh của mình.”

“Này tỳ-khưu, nếu đối với giới hạnh của mình, ông không có gì đáng để khiển trách, thì tại sao ông có nhiều nghi ngờ, nhiều hối hận?”

“Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng Pháp mà Thế Tôn đã giảng dạy không phải vì mục đích thanh tịnh trì giới.”

“Này tỳ-khưu, nếu ông hiểu rằng Pháp mà Ta đã giảng dạy không phải vì mục đích thanh tịnh trì giới, thì ông hiểu Pháp mà Ta đã giảng dạy là vì mục đích gì?”

“Bạch Thế Tôn, con hiểu rằng Pháp do Thế Tôn đã giảng dạy là để ly tham.”

“Lành thay, lành thay, này tỳ-khưu! Lành thay, này tỳ-khưu, ông hiểu rằng Pháp do Ta đã giảng dạy là để ly tham. Pháp do Ta đã giảng dạy là để đoạn tận ái.

“Ông nghĩ thế nào, này tỳ-khưu, mắt là thường hay vô thường?” – “Là vô thường, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Là khổ, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Tai là thường hay vô thường?” – “Là vô thường, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Là khổ, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Mũi là thường hay vô thường?” – “Là vô thường, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Là khổ, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Lưỡi là thường hay vô thường?” – “Là vô thường, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Là khổ, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thân là thường hay vô thường?” – “Là vô thường, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Là khổ, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Ý là thường hay vô thường?” – “Là vô thường, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường là khổ hay lạc?” – “Là khổ, bạch Thế Tôn.” – “Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’?” – “Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Thấy vậy, này tỳ-khưu, bậc đa văn thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt, nhàm chán đối với tai, nhàm chán đối với mũi, nhàm chán đối với lưỡi, nhàm chán đối với thân, nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’”

Thế Tôn thuyết như vậy, tỳ-khưu ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và trong khi lời dạy này được nói lên, tỳ-khưu ấy khởi lên pháp nhãn ly trần vô cấu: “Phàm cái gì có sinh khởi, tất cả cái ấy đều có đoạn diệt.”


 

Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho
Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū
Anuttaro Purisadammasārathi
Satthā devamanussānaṃ
Buddho Bhagavāti.

Svākkhāto bhagavato dhammo
Sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko
Opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti.

Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Yadidaṃ cattāri purisayugāṇi atthapurisapuggalā
Esa bhagavato sāvakasaṅgho
Āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaranīyo
Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti.

Đầu ngọn cờ
Dhajagga Sutta, SN 11.3

"Này các Tỳ-khưu, Ta nói như sau: Khi quý vị đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: 'Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'.

Này các Tỳ-khưu, khi quý vị niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.

Nếu quý vị không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: 'Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.'

Này các Tỳ-khưu, khi quý vị niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

Nếu quý vị không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: 'Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.'

Này các Tỳ-khưu, khi quý vị niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

Vì sao? Này các Tỳ-khưu, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.

* * * * * *

 

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

Bhikkhu Analayo (2017). Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts.

MỤC LỤC TỔNG QUÁT

Dẫn nhập

BỆNH TẬT

Chương 01 - Đức Phật như là một vị y sĩ vô thượng
Chương 02 - Thân bệnh, tâm an
Chương 03 - Mũi tên của đau khổ
Chương 04 - Phẩm chất của bệnh nhân và người chăm sóc
Chương 05 - Tiềm năng chữa bệnh của các chi phần giác ngộ
Chương 06 - Giảm thiểu cơn đau trong tỉnh thức
Chương 07 - Chịu đựng cơn đau trong tỉnh thức
Chương 08 - Tỉnh thức đối mặt bệnh tật
Chương 09 - Không sợ hãi khi bị bệnh
Chương 10 - Liều thuốc nội quán
Chương 11 - Những lời dạy giải thoát từ một bệnh nhân
Chương 12 - Chương trình hành thiền chữa bệnh

CÁI CHẾT

Chương 13 - Chết là điều tất nhiên
Chương 14 - Tự do tỉnh thức không buồn rầu
Chương 15 - Cận tử và các phạm trú
Chương 16 - Các hướng dẫn trước khi chết
Chương 17 - Không chấp thủ và bệnh bất trị mạt kỳ
Chương 18 - Lời khuyên về chăm sóc thoa dịu
Chương 19 - Chết trong tỉnh thức
Chương 20 - Tiềm năng giải thoát của cái chết
Chương 21 - Sức mạnh của nội quán lúc cận tử
Chương 22 - Những lời cuối của một đệ tử cư sĩ thành đạt
Chương 23 - Trạng thái thiền của Đức Phật khi nhập diệt
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

Kết luận và các hướng dẫn hành thiền

Dẫn nhập
Các hướng dẫn hành thiền cho ngài Girimānanda
(1) Quán vô thường
(2) Quán vô ngã
(3) Quán bất tịnh
(4) Quán nguy hại
(5) Quán từ bỏ
(6) Quán xả ly
(7) Quán diệt tận
(8) Quán không tham luyến vào toàn thế giới
(9) Quán các hành là vô thường
(10) Quán hơi thở

 


CÁC CHỦ ĐỀ GIÁO THUYẾT TRONG MỖI CHƯƠNG

Chương 01 - Tứ thánh đế và Bát chi thánh đạo, danh hiệu của Như Lai
Chương 02 - Năm uẩn chấp thủ, vị ngọt và nguy hại
Chương 03 - Bảy khuynh hướng ngủ ngầm và ba loại cảm thọ
Chương 04 - Bốn phạm trú
Chương 05 - Năm triền cái, bảy chi phần giác ngộ và cách tu dưỡng
Chương 06 - Bốn pháp lập niệm, pháp nhãn, và đạt thiền diệt
Chương 07 - Tầm quan trọng của chư thiên
Chương 08 - Bốn cấp bậc giác ngộ, năm hạ phần kiết sử, và tam vô lậu học
Chương 09 - Bốn chi phần Dự Lưu và ngũ giới
Chương 10 - Hai mươi loại thân kiến và ba lậu hoặc
Chương 11 - Vô ngã và sự khác biệt giữa Dự Lưu và giác ngộ hoàn toàn
Chương 12 - Bốn tưởng điên đảo

Chương 13 - Phật Độc Giác và mười lực, bốn pháp vô sở úy của Như Lai
Chương 14 - Năm vô lậu học và ba mươi bảy chi phần đưa đến giác ngộ
Chương 15 - Vai trò các cõi trời
Chương 16 - Tam Bảo và đường đến quả Dự Lưu
Chương 17 - Ba tướng và bốn loại thức ăn
Chương 18 - Tinh luyện tiệm tiến của hạnh phúc
Chương 19 - Duyên sinh
Chương 20 - Chánh kiến lúc cận tử
Chương 21 - Sáu căn
Chương 22 - Tầm quan trọng của Chuyển Luân Vương
Chương 23 - Bốn tầng thiền hữu sắc và bốn tầng thiền vô sắc
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

* * *

 

Bhikkhu ANALAYO (1962-)
Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg, Germany

Tỳ-khưu Analayo sinh năm 1962 tại Đức. Sư xuất gia gieo duyên năm 1990 tại chùa Wat Suan Mokkh ở miền nam Thái Lan. Năm 1994, Sư đến Sri Lanka xuất gia với ngài Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, và sau đó thọ giới tỳ-khưu với Hòa thượng Pemasiri vào năm 2007 trong hệ phái Shwegyin Nikaya (bắt nguồn từ hệ phái chính Amarapura Nikaya). Tuy nhiên, Bhikkhu Bodhi là vị thầy chính.

Sư hoàn tất chương trình tiến sĩ tại University of Peradeniya năm 2000 và luận án tiến sĩ được xuất bảm thành sách với tựa đề “Satipaṭṭhāna, the Direct Path to Realization”. Cuốn sách được nhiều người khen ngợi, đã được tái bản nhiều lần và dịch sang 10 thứ tiếng. Bản tiếng Việt được Cư sĩ Nguyễn Văn Ngân dịch, với tựa đề “Satipaṭṭhāna, Con đường thẳng tới giác ngộ”, xuất bản năm 2017.

Hiện nay, Sư là giáo sư Phật học tại Trung tâm Phật học của Đại học Hamburg, Đức quốc (Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg), Đại học Phật giáo Pháp Cổ, Đài Loan (Dharma Drum Buddhist College, Taiwan). Sư là đồng sáng lập viên Nhóm Nghiên cứu A-hàm (Āgama Research Group) và là giảng sư của Trung tâm Phật học Barre, Hoa Kỳ (Barre Center for Buddhist Studies).

Hiện nay (2018), ngài trú và tịnh tu tại Trung tâm Phật học Barre, bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Các nguồn thông tin:

1) Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Bhikkhu_Analayo 
2) University of Hamburg: https://www.buddhismuskunde.uni-hamburg.de/en/personen/analayo.html 

------------------

Giáo sư AMING TU

Giáo sư Aming Tu (杜正民 - Đỗ Chính Dân, Du Zhengmin) là một sáng lập viên của hội CBETA (Chinese Buddhist Electronic Text Association, Hiệp hội Kinh văn Điện tử Phật giáo Trung Hoa) và đã từng là Giám đốc Điều hành của Hội (1998-2006). Ông là giáo sư Tin học và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong dự án số hóa Tam tạng Kinh điển tiếng Hán. Năm 2005, ông bị bệnh và được chẩn đoán là bị bệnh ung thư gan, phải vào bệnh viện 10 ngày và trải qua một cơn đau đớn rất khắc nghiệt.

Sau khi rời bệnh viện, ông tìm đọc các bản kinh trong Hán tạng và tạng Pali có ghi lại các lời dạy của Đức Phật và các vị đại đệ tử để đối phó với cơn đau, bệnh tật và cái chết. Ông suy ngẫm và thực hành theo đó, và nhờ vậy, đã giúp ông rất nhiều để chịu đựng các cơn đau và viễn ảnh của cái chết không thể tránh được.

Ông thảo luận các vấn đề nầy với tỳ-khưu Anālayo – lúc ấy, Sư đang nghiên cứu và dịch các bản kinh A-hàm. Ông đề nghị Sư khai triển thành một cuốn sách với nội dung về phương cách đối diện với bệnh tật và cái chết, dựa theo các bản kinh của Phật giáo Sơ kỳ – bộ A-hàm trong Hán tạng và Nikāya trong tạng Pāli, cùng với những hướng dẫn thực tế để hành thiền, giúp hành giả có đủ nghị lực, hiểu biết và tỉnh thức để trực diện với các vấn đề tất yếu đó của kiếp người.

Sau khi Sư hoàn tất viết cuốn sách, Gs Tu đọc bản thảo, rất hoan hỷ và viết Lời Bạt, đề cập đến nguyên nhân ra đời của cuốn sách. Cuốn sách được xuất bản vào đầu năm 2017 và được nhiều vị thiền sư, học giả khen ngợi, tán thán. Một điều buồn là Gs Aming Tu không thấy được ấn bản chính thức. Ông qua đời vào tháng 11 năm 2016.

* * *

[ Home ]

14-07-2019