Đàm luận Phật Pháp
- 320 -

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

20. TIỀM NĂNG GIẢI THOÁT CỦA CÁI CHẾT  

 
1-mucluc20.jpg
1-mucluc20.jpg
1250 * 924
2_10kiet_su.jpg
2_10kiet_su.jpg
1375 * 900
3-phagguna.jpg
3-phagguna.jpg
1485 * 882

 

XX

20. TIỀM NĂNG GIẢI THOÁT CỦA CÁI CHẾT    
Bhikkhu Anālayo, Mindfully facing disease and death (2017)

XX.1 GIỚI THIỆU

Trong chương này, Đức Phật một lần nữa thể hiện vai trò của một vị thầy từ bi đến thăm và khuyến dạy một đệ tử bị bệnh nặng. Bài kinh được dịch dưới đây trích từ Tạp A-hàm (SĀ 1023), tương tự như bài kinh tương đương trong Tăng chi bộ (AN 6.56), không ghi lại những chỉ dẫn thực tế của Đức Phật đưa ra. Thay vào đó, cả hai bản kinh nhấn mạnh, trên nguyên tắc, về tiềm năng có thể hướng dẫn một người tại thời điểm khi bị bệnh nan y, và do đó làm thế nào giúp khoảnh khắc cận kề của cái chết có thể được biến thành khoảnh khắc đưa đến giải thoát.

XX.2 KINH VĂN

(xem phần kinh văn bên dưới)

XX.3 THẢO LUẬN

Một chi tiết nhỏ trong bài kinh được dịch ở trên, cũng được đề cập trong bản kinh Pāli tương đương, là Đức Phật chỉ đến thăm ngài Phagguna bị bệnh sau khi đã hành thiền vào buổi trưa. Điều này đặc biệt đáng chú ý trong phiên bản Tạp A-hàm, trong đó có ghi Đức Phật đã được báo cho biết về tình trạng bệnh của ngài Phagguna và kinh văn ghi rõ ràng rằng nhiều người ở trong tình trạng tương tự như thế đã mệnh chung. Thật vậy, trong cả hai phiên bản, ngài Phagguna qua đời không lâu sau chuyến viếng thăm của Đức Phật.

Sự kiện mà Đức Phật không được mô tả là ngay lập tức vội đến thăm ngài Phagguna có thể được hiểu rằng lòng từ bi quan tâm hỗ trợ những người bị bệnh hoặc thậm chí trên bờ vực của cái chết không khiến phải bỏ bê việc thực hành riêng. Trong bài kinh, ngay cả một người đã hoàn toàn giác ngộ không phải ngay lập tức đi ra ngoài để gặp bệnh nhân, mà thay vào đó, dành thời gian để thực hành thời thiền chính thức của mình. Điều này rõ ràng là không phải vì không quan tâm đến người bệnh, chúng ta cần phải đọc cùng với sự mô tả về câu chuyện Đức Phật thậm chí sẵn sàng tự tay lau rửa, chăm sóc một vị tu sĩ bị bệnh, như được đề cập ở Chương 4. Hai câu chuyện này chỉ đơn giản phản ánh các khía cạnh của cùng một thái độ từ bi.

Tấm gương của Đức Phật đặt ra trong trường hợp của bài kinh này cho thấy sự cần thiết cho những ai chưa đạt đến giác ngộ phải tinh tấn hành thiền đều đặn, để có thể tiếp cận những người khác với sự bình an và sức mạnh nội tâm đến từ công phu thực hành riêng của mình. Không có sự tự chăm sóc đúng cách này, sẽ không thể chăm sóc người khác theo khả năng tốt nhất của mình.

Một khía cạnh khác của bài kinh được dịch ở trên là tiềm năng giải thoát của Pháp tại thời điểm của cái chết. Tầm quan trọng của thời điểm của cái chết cũng được đề cập đến trong Đại kinh Phân biệt về Nghiệp (Mahākammavibhaṅga-sutta, MN 136) và bài kinh Trung A-hàm tương đương (MĀ 171). Hai bài kinh này khảo sát sự phức tạp của nghiệp, cho thấy rằng ngay cả khi người nào đó lúc trước thực hiện những hành động bất thiện với khả năng dẫn đến sự tái sinh ở cõi thấp hơn, vẫn có thể vào lúc chết, với tâm ý được thiết lập trong trạng thái thiện lành, không tái sinh vào cõi khổ. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là quả báo của những hành động xấu ác đã hoàn toàn không còn hiệu lực, nhưng chỉ có điều là nó không trổ ra trong dịp này. Đoạn kinh văn có liên quan trích từ bài kinh trong Trung A-hàm (MĀ 171) như sau:

Nếu có một người không từ bỏ sát sinh, không từ bỏ lấy của không cho, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói dối, không từ bỏ uống các loại rượu, không từ bỏ tà kiến; nhưng khi chết khởi lên các tâm và tâm sở thiện, trạng thái tâm tương ưng với chánh kiến. Nhờ nhân này, duyên này, khi thân hoại mạng chung được sinh vào cõi lành, được sinh vào cõi trời.

Đoạn kinh trích dẫn này cần phải được đọc cùng với mô tả về tình trạng khó khăn của một người không duy trì các hành vi đạo đức và phải đối mặt với cái chết đang đến gần. Trường hợp đó được mô tả trong bài kinh của Trung A-hàm (kinh Si tuệ địa, MĀ 199), tương đương với kinh của Trung bộ (MN 129, Bālapaṇḍita-sutta) như sau:

Người ngu si kia thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh. Người ấy bị bệnh tật đau đớn. Ngồi nằm trên giường, hoặc ngồi nằm trên ván, hoặc ngồi nằm trên đất, thân tâm người ấy cực kỳ đau khổ đến nỗi người ấy muốn chấm dứt mạng sống. Bấy giờ ,những thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh của người ấy treo ngược từ trên cao.

Giống như lúc xế chiều khi mặt trời lặn xuống sau núi cao, bóng núi dốc ngược trên mặt đất. Cũng vậy, những thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh người ấy bấy giờ đang treo ngược từ trên cao.

Người ấy tự nghĩ: ”Đó là những thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh của ta đang đổ ngược từ trên cao. Ta xưa kia làm ác nhiều, không tạo phước. Nếu có nơi nào dành cho những người làm ác, hung bạo, làm việc phi lý, không làm lành, không tạo phước, không tìm nơi nương tựa tránh được sợ hãi, ta sẽ bị đưa đến chỗ ác đó.”

Do đó mà người ấy sinh hối hận. Vì hối hận mà chết không nhẹ nhàng, mạng chung trong cảnh bất thiện.

Biểu hiện của sự hối hận và tội lỗi liên quan đến một cái gì đó bất thiện được thực hiện trước đây thực sự là một tính năng thường thấy ở những người bệnh trong giai đoạn cuối đời. Do đó, tốt nhất là, trong khi vẫn còn sống khỏe, ta phải cố gắng tránh tạo ra điều kiện cho cái bóng đáng sợ của hành vi xấu xa phát sinh, và từ đó, thiết lập cho bản thân mình một tâm trạng không sợ hãi thông qua việc mình đã duy trì các hành vi đạo đức trong đời sống, như được mô tả trong Chương 9.

Tuy nhiên, trong trường hợp bệnh nhân không thành công về mặt này, tại lúc cận kề cái chết, ít nhất người ấy cũng có thể phát khởi một tâm thiện kết nối với chánh kiến, như là một tia nắng tạm thời xua tan bóng râm hối hận về những việc làm bất thiện trong quá khứ. Đặc biệt ở đây, chánh kiến là sự hiểu biết về Tứ thánh đế, chẳng hạn như chịu trách nhiệm về lòng tham thủ do vô minh đã thúc đẩy các hành vi bất thiện trong quá khứ và dùng sự thừa nhận trung thực này như là một cơ sở để nuôi dưỡng tuệ quán và tự do thoát ra khỏi lòng tham thủ.

Vào thời điểm quan trọng khi cận kề cái chết, cái nhìn về Pháp nói trên có thể xem như cung cấp chất xúc tác cho chuyển hóa và có tác động quyết định, hoặc là về cõi tái sinh trong tương lai hoặc là tạo ra một bước đột phá sâu sắc hơn mà trước đó, trong khi vẫn còn sống khỏe mạnh, đã không thể đạt được. Ngay cả khi người ấy không quan tâm đến viễn ảnh tái sinh trong những đoạn trên, thời khắc cuối cùng trước khi qua đời chắc chắn là một thời điểm mạnh mẽ để biến đổi và thăng hoa tâm trí của người ấy.

Lý tưởng nhất là bước đột phá trên được sự hỗ trợ của những người có khả năng khuyến dạy về sự buông xả và phát triển tuệ quán. Nếu mọi việc xảy ra tốt đẹp, những huynh đệ đồng tu sẽ có mặt ở đó để hỗ trợ và khuyến khích, thậm chí có thể đọc các đoạn Pháp mà người bệnh đã chọn sẵn từ trước. Tuy nhiên, người ấy không nên kỳ vọng rằng đến lúc đó, sẽ có được sự hỗ trợ lý tưởng như thế. Vì lý do này, bài kinh được dịch ở trên đưa ra một giải pháp khác là “chú tâm nhớ lại pháp đã từng nghe, tư duy, thẩm tra, quán sát pháp ấy.” Đây là một giải pháp thay thế trong trường hợp đến lúc gần lâm chung, người ấy không có thầy hay bạn đồng tu đến hỗ trợ, khuyến nhủ.

Điều này dẫn đến nhu cầu cần phải trang bị cho mình đầy đủ kiến thức về Pháp, để mình thực sự có thể quán soi tại một thời điểm như vậy. “Đầy đủ” ở đây có nghĩa là trong trường hợp phải đối mặt cái chết của chính mình, người ấy sẵn sàng làm điều đó. Theo cách này, bài kinh ở đây cho thấy tầm quan trọng của việc học và tiếp thu Pháp, đặc biệt là các giáo lý cốt lõi về tuệ quán và sự buông xả.

Bất cứ đoạn kinh văn nào mà ta có thể thấy đặc biệt hữu ích trong phương diện này, ta cần phải quen thuộc với các đoạn kinh văn đó ngay từ bây giờ. Trong bối cảnh cổ xưa, điều này có nghĩa là học thuộc lòng. Mặc dù ngày nay có thể dễ dàng truy cập các kinh văn, ta không thể chắc chắn sự truy cập như vậy sẽ có sẵn tại thời điểm cận kề cái chết. Một tai nạn bất ngờ có thể xảy ra và ta có thể sẽ ở trong tình huống không có các bạn đồng tu đến nhắc nhở, khuyến dạy thực hành pháp, mà cũng không thể truy cập thư viện cá nhân, dù là bản in hay kỹ thuật số. Vì thế, ta cần phải gần gũi, quen thuộc và ghi nhớ những đoạn kinh ngắn, hay những lời dạy chọn lọc, hoặc vài câu kệ hay các câu hướng dẫn súc tích, để ta suy quán cho riêng mình. Để có những chọn lựa thích hợp, có thể thử hình dung một cách rõ ràng và sống động về cảnh mình sắp sửa qua đời, ta cần có những đoạn kinh văn nào hay suy tư, quán soi như thế nào là có ích lợi nhất ngay lúc ấy. Tu dưỡng một tinh thần tự lực như thế giúp tạo ra một nền tảng vững chắc để khai thác tốt nhất tiềm năng giải thoát tại thời điểm lúc mình sắp sửa mệnh chung.

* * *

 

SĀ 1023
PHẢ-CẦU-NA
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản Anh dịch của Bhikkhu Anālayo

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Phả-cầu-na (Phagguna) đang ở tại giảng đường Lộc Tử Mẫu (Migāramātā) trong vườn phía Đông, bị bệnh nguy khốn.

Tôn giả A-nan đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phả-cầu-na ở giảng đường Lộc Tử Mẫu trong vườn phía Đông bị bệnh nguy khốn. Bệnh như vậy có thể chết. Lành thay, Thế Tôn! Xin Ngài vì thương xót mà đến giảng đường Lộc Tử Mẫu, vườn phía Đông, chỗ Tôn giả Phả-cầu-na.”

Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Chiều hôm đó sau khi từ thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến giảng đường Lộc Tử Mẫu, vườn phía Đông, vào phòng Tôn giả Phả-cầu-na, trải tòa mà ngồi và vì Tôn giả Phả-cầu-na thuyết pháp, dạy dỗ, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Không lâu sau khi Thế Tôn ra về, Tôn giả Phả-cầu-na mệnh chung. Lúc mệnh chung, các căn vui tươi, gương mặt thanh tịnh, sắc da tươi sáng.

Tôn giả A-nan khi cúng dường xá-lợi Tôn giả Phả-cầu-na xong, về chỗ Phật đảnh lễ dưới chân Phật, đứng lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, không lâu sau khi Thế Tôn đến thăm, Tôn giả Phả-cầu-na mệnh chung. Lúc Tôn giả này sắp qua đời, các căn vui tươi, tướng mạo thanh tịnh, da dẻ nhuận sáng. Bạch Thế Tôn, không biết Tôn giả ấy sẽ sinh về đâu, thọ sinh thế nào, đời sau ra sao?”

Phật bảo A-nan: “Có tỳ-khưu khi chưa bị bệnh, chưa đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Sau đó, khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, tâm không điều hòa, mệnh sống suy mòn, được nghe Phật nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở. Khi được nghe pháp xong, đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Này A-nan, đó là phúc lợi nhận được từ sự nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở của Phật.

“Lại nữa, A-nan, có tỳ-khưu khi chưa bị bệnh, chưa đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Sau đó, khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, tâm không điều hòa, mệnh sống suy mòn, không được nghe Phật nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, nhưng được nghe các vị trưởng lão đa văn tu phạm hạnh nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở. Khi được nghe pháp xong, đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Này A-nan, đó gọi là được phúc lợi từ sự nghe pháp, chỉ dạy, nhắc nhở.

“Lại nữa, A-nan, có tỳ-khưu khi chưa bị bệnh, chưa đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Sau đó, khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, tâm không điều hòa, mệnh sống suy mòn, không được nghe Phật nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, cũng không được nghe các vị trưởng lão đa văn tu phạm hạnh nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, nhưng trước kia đã được nghe pháp, một mình ở nơi vắng lặng tư duy, thẩm tra, quán sát pháp ấy, đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Này A-nan, đó gọi là được phúc lợi từ sự tư duy, thẩm tra, quán sát pháp đã nghe từ trước.

“Lại nữa, A-nan, có tỳ-khưu khi chưa bị bệnh đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt giải thoát vô thượng qua đoạn tận ái, chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc qua đoạn tận thủ. Sau đó, khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, mệnh sống suy mòn, được nghe Phật nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, đạt được giải thoát vô thượng qua đoạn tận ái, được giải thoát khỏi các lậu hoặc qua đoạn tận thủ. Này A-nan, đó gọi là được phúc lợi từ sự nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở của Phật.

“Lại nữa, A-nan, có tỳ-khưu khi chưa bị bệnh đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt giải thoát vô thượng qua đoạn tận ái, chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc qua đoạn tận thủ. Sau đó, khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, mệnh sống suy mòn, không được nghe Phật nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, nhưng được nghe các vị trưởng lão đa văn tu phạm hạnh nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở. Khi nghe pháp xong, đạt được giải thoát vô thượng qua đoạn tận ái, được giải thoát khỏi các lậu hoặc qua đoạn tận thủ. Này A-nan, đó gọi là được phúc lợi từ sự nghe pháp, chỉ dạy, nhắc nhở.

“Lại nữa, A-nan, có tỳ-khưu khi chưa bị bệnh đã đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt giải thoát vô thượng qua đoạn tận ái, chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc qua đoạn tận thủ. Sau đó, khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, mệnh sống suy mòn, không được nghe Phật nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, cũng không được nghe các vị trưởng lão đa văn tu phạm hạnh nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, nhưng trước kia đã được nghe pháp, một mình ở nơi vắng lặng tư duy, thẩm tra, quán sát pháp ấy, đạt được giải thoát vô thượng qua đoạn tận ái, được giải thoát khỏi các lậu hoặc qua đoạn tận thủ. Này A-nan, đó gọi là được phúc lợi từ sự tư duy, thẩm tra, quán sát pháp đã nghe từ trước.

“Làm sao mà các căn của tỳ-khưu Phả-cầu-na lại không vui tươi, tướng mạo không thanh tịnh, da dẻ không nhuận sáng chứ? Trước kia, tỳ-khưu Phả-cầu-na khi chưa bị bệnh, chưa đoạn trừ năm hạ phần kiết sử. Bây giờ, tỳ-khưu này tự mình đã được nghe bậc Đạo sư nói pháp, chỉ dạy, nhắc nhở, và đã đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử.”

Rồi Thế Tôn xác nhận Tôn giả Phả-cầu-na đã đắc quả A-na-hàm. Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ rồi lui.

* GHI CHÚ:
1) Migāramātā: Lộc mẫu, biệt danh của bà Visākhā. Migāra: Lộc tử, theo bản Hán dịch, có lẽ từ “miga” (hươu, nai, lộc).
2) Năm hạ phần kiết sử: Thân kiến, hoài nghi, giới lễ nghi thủ, dục ái, sân.
3) A-na-hàm: Anāgāmi, quả thánh Bất lai.


AN 6.56
PHAGGUNA
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản Anh dịch của Bhikkhu Bodhi

Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh. Lành thay, bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn đi đến Tôn giả Phagguna, vì lòng từ mẫn.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Thế Tôn từ xa đi đến, muốn rời khỏi giường. Thế Tôn nói với Tôn giả Phagguna: “Này Phagguna, thầy chớ có rời khỏi giường. Ðã có những chỗ ngồi đã soạn từ trước, Ta sẽ ngồi tại các chỗ ấy.”

Rồi Thế Tôn ngồi xuống và nói với Tôn giả Phagguna: “Này Phagguna, mong rằng thầy có thể kham nhẫn. Mong rằng thầy có thể chịu đựng. Mong rằng các khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng. Mong rằng triệu chứng giảm thiểu được thấy rõ.”

“Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn. Con không thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ. Ví như một người lực sĩ chém đầu con với một thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, những ngọn gió kinh khủng thổi lên, đau nhói trong đầu con. Con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ. Như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, con cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ. Như một người đồ tể thiện xảo hay đệ tử người đồ tể cắt ngang bụng con bò với một con dao sắc bén; cũng vậy, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của con. Con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ. Như hai người lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân của con. Con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ của con gia tăng, không giảm thiểu. Triệu chứng gia tăng được thấy rõ.”

Rồi Thế Tôn giảng pháp cho Tôn giả Phagguna nghe, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ, và sau đó, từ chỗ ngồi, đứng dậy ra đi. Sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, Tôn giả Phagguna, liền mệnh chung với các căn rất trong sáng.

Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên, rồi nói: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu, đã mệnh chung. Tôn giả ấy mệnh chung với các căn rất trong sáng.”

“Này Ānanda, tại sao các căn của tỳ-khưu Phagguna lại không trong sáng chứ? Này Ānanda, mặc dù tâm của tỳ-khưu Phagguna chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng sau khi nghe pháp, tâm của vị này được giải thoát khỏi các kiết sử ấy.

“Này Ānanda, có sáu lợi ích nếu được nghe pháp đúng thời và thẩm sát ý nghĩa đúng thời. Thế nào là sáu?

(1) “Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi gần mệnh chung được thấy Thế Tôn. Thế Tôn thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Ðây là lợi ích thứ nhất, này Ānanda, khi được nghe pháp đúng thời.

(2) “Lại nữa, này Ānanda, tỳ-khưu với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi gần mệnh chung không được thấy Thế Tôn, nhưng được thấy đệ tử của Như Lai. Ðệ tử của Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ānanda, đây là lợi ích thứ hai khi được nghe pháp đúng thời.

(3) “Lại nữa, này Ānanda, tỳ-khưu với tâm chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, vị ấy trong khi gần mệnh chung không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học. Do vị ấy, với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học, nên tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Này Ānanda, đây là lợi ích thứ ba khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.

(4) “Ở đây, này Ānanda, tỳ-khưu với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt các sinh y, vị ấy trong khi gần mệnh chung được thấy Như Lai. Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt các sinh y. Này Ānanda, đây là lợi ích thứ tư khi được nghe pháp đúng thời.

(5) “Lại nữa, này Ānanda, tỳ-khưu với tâm đã được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt các sinh y, vị ấy trong khi gần mệnh chung không được thấy Như Lai, chỉ được thấy đệ tử của Như Lai. Ðệ tử của Như Lai thuyết pháp cho vị ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn, đề cao đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Sau khi nghe thuyết pháp, tâm vị ấy được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt các sinh y. Này Ānanda, đây là lợi ích thứ năm khi được nghe pháp đúng thời.

(5) “Lại nữa, này Ānanda, tỳ-khưu với tâm được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng tâm chưa giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt các sinh y, vị ấy trong khi gần mệnh chung không được thấy Như Lai, cũng không được thấy đệ tử của Như Lai. Nhưng với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học. Do vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học, nên tâm được giải thoát đối với vô thượng đoạn diệt các sinh y này. Này Ānanda, đây là lợi ích thứ sáu khi thẩm sát ý nghĩa đúng thời.

Này Ānanda, có sáu lợi ích khi được nghe pháp đúng thời và thẩm sát ý nghĩa đúng thời.


 

Itipi so Bhagavā Arahaṃ Sammāsambuddho
Vijjācaraṇasampanno Sugato Lokavidū
Anuttaro Purisadammasārathi
Satthā devamanussānaṃ
Buddho Bhagavāti.

Svākkhāto bhagavato dhammo
Sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko
Opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti.

Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
Yadidaṃ cattāri purisayugāṇi atthapurisapuggalā
Esa bhagavato sāvakasaṅgho
Āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaranīyo
Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti.

Đầu ngọn cờ
Dhajagga Sutta, SN 11.3

"Này các Tỳ-khưu, Ta nói như sau: Khi quý vị đi vào rừng, đi đến gốc cây hay đi đến nhà trống, nếu run sợ, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, trong khi ấy hãy niệm nhớ đến Ta: 'Ngài là Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn'.

Này các Tỳ-khưu, khi quý vị niệm nhớ đến Ta, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên, sẽ được tiêu diệt.

Nếu quý vị không niệm nhớ đến Ta, hãy niệm nhớ đến Pháp: 'Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, do người trí tự mình giác hiểu.'

Này các Tỳ-khưu, khi quý vị niệm nhớ đến Pháp, thời sợ hãi, hoảng hốt hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

Nếu quý vị không niệm nhớ đến Pháp, hãy niệm nhớ đến chúng Tăng: 'Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Chánh hạnh; chúng Tăng đệ tử Thế Tôn là bậc Như pháp hạnh, tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng đệ tử này của Thế Tôn đáng được cúng dường, đáng được hiến dâng, đáng được bố thí, đáng được chấp tay, là vô thượng phước điền ở trên đời.'

Này các Tỳ-khưu, khi quý vị niệm nhớ đến chúng Tăng, thời sợ hãi, hoảng hốt, hay lông tóc dựng ngược có khởi lên sẽ tiêu diệt.

Vì sao? Này các Tỳ-khưu, Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, không nhát gan, không hoảng hốt, không hoảng sợ, không hoảng chạy.

* * * * * *

 

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

Bhikkhu Analayo (2017). Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts.

MỤC LỤC TỔNG QUÁT

Dẫn nhập

BỆNH TẬT

Chương 01 - Đức Phật như là một vị y sĩ vô thượng
Chương 02 - Thân bệnh, tâm an
Chương 03 - Mũi tên của đau khổ
Chương 04 - Phẩm chất của bệnh nhân và người chăm sóc
Chương 05 - Tiềm năng chữa bệnh của các chi phần giác ngộ
Chương 06 - Giảm thiểu cơn đau trong tỉnh thức
Chương 07 - Chịu đựng cơn đau trong tỉnh thức
Chương 08 - Tỉnh thức đối mặt bệnh tật
Chương 09 - Không sợ hãi khi bị bệnh
Chương 10 - Liều thuốc nội quán
Chương 11 - Những lời dạy giải thoát từ một bệnh nhân
Chương 12 - Chương trình hành thiền chữa bệnh

CÁI CHẾT

Chương 13 - Chết là điều tất nhiên
Chương 14 - Tự do tỉnh thức không buồn rầu
Chương 15 - Cận tử và các phạm trú
Chương 16 - Các hướng dẫn trước khi chết
Chương 17 - Không chấp thủ và bệnh bất trị mạt kỳ
Chương 18 - Lời khuyên về chăm sóc thoa dịu
Chương 19 - Chết trong tỉnh thức
Chương 20 - Tiềm năng giải thoát của cái chết
Chương 21 - Sức mạnh của nội quán lúc cận tử
Chương 22 - Những lời cuối của một đệ tử cư sĩ thành đạt
Chương 23 - Trạng thái thiền của Đức Phật khi nhập diệt
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

Kết luận và các hướng dẫn hành thiền

Dẫn nhập
Các hướng dẫn hành thiền cho ngài Girimānanda
(1) Quán vô thường
(2) Quán vô ngã
(3) Quán bất tịnh
(4) Quán nguy hại
(5) Quán từ bỏ
(6) Quán xả ly
(7) Quán diệt tận
(8) Quán không tham luyến vào toàn thế giới
(9) Quán các hành là vô thường
(10) Quán hơi thở

 


CÁC CHỦ ĐỀ GIÁO THUYẾT TRONG MỖI CHƯƠNG

Chương 01 - Tứ thánh đế và Bát chi thánh đạo, danh hiệu của Như Lai
Chương 02 - Năm uẩn chấp thủ, vị ngọt và nguy hại
Chương 03 - Bảy khuynh hướng ngủ ngầm và ba loại cảm thọ
Chương 04 - Bốn phạm trú
Chương 05 - Năm triền cái, bảy chi phần giác ngộ và cách tu dưỡng
Chương 06 - Bốn pháp lập niệm, pháp nhãn, và đạt thiền diệt
Chương 07 - Tầm quan trọng của chư thiên
Chương 08 - Bốn cấp bậc giác ngộ, năm hạ phần kiết sử, và tam vô lậu học
Chương 09 - Bốn chi phần Dự Lưu và ngũ giới
Chương 10 - Hai mươi loại thân kiến và ba lậu hoặc
Chương 11 - Vô ngã và sự khác biệt giữa Dự Lưu và giác ngộ hoàn toàn
Chương 12 - Bốn tưởng điên đảo

Chương 13 - Phật Độc Giác và mười lực, bốn pháp vô sở úy của Như Lai
Chương 14 - Năm vô lậu học và ba mươi bảy chi phần đưa đến giác ngộ
Chương 15 - Vai trò các cõi trời
Chương 16 - Tam Bảo và đường đến quả Dự Lưu
Chương 17 - Ba tướng và bốn loại thức ăn
Chương 18 - Tinh luyện tiệm tiến của hạnh phúc
Chương 19 - Duyên sinh
Chương 20 - Chánh kiến lúc cận tử
Chương 21 - Sáu căn
Chương 22 - Tầm quan trọng của Chuyển Luân Vương
Chương 23 - Bốn tầng thiền hữu sắc và bốn tầng thiền vô sắc
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

* * *

 

Bhikkhu ANALAYO (1962-)
Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg, Germany

Tỳ-khưu Analayo sinh năm 1962 tại Đức. Sư xuất gia gieo duyên năm 1990 tại chùa Wat Suan Mokkh ở miền nam Thái Lan. Năm 1994, Sư đến Sri Lanka xuất gia với ngài Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, và sau đó thọ giới tỳ-khưu với Hòa thượng Pemasiri vào năm 2007 trong hệ phái Shwegyin Nikaya (bắt nguồn từ hệ phái chính Amarapura Nikaya). Tuy nhiên, Bhikkhu Bodhi là vị thầy chính.

Sư hoàn tất chương trình tiến sĩ tại University of Peradeniya năm 2000 và luận án tiến sĩ được xuất bảm thành sách với tựa đề “Satipaṭṭhāna, the Direct Path to Realization”. Cuốn sách được nhiều người khen ngợi, đã được tái bản nhiều lần và dịch sang 10 thứ tiếng. Bản tiếng Việt được Cư sĩ Nguyễn Văn Ngân dịch, với tựa đề “Satipaṭṭhāna, Con đường thẳng tới giác ngộ”, xuất bản năm 2017.

Hiện nay, Sư là giáo sư Phật học tại Trung tâm Phật học của Đại học Hamburg, Đức quốc (Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg), Đại học Phật giáo Pháp Cổ, Đài Loan (Dharma Drum Buddhist College, Taiwan). Sư là đồng sáng lập viên Nhóm Nghiên cứu A-hàm (Āgama Research Group) và là giảng sư của Trung tâm Phật học Barre, Hoa Kỳ (Barre Center for Buddhist Studies).

Hiện nay (2018), ngài trú và tịnh tu tại Trung tâm Phật học Barre, bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Các nguồn thông tin:

1) Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Bhikkhu_Analayo 
2) University of Hamburg: https://www.buddhismuskunde.uni-hamburg.de/en/personen/analayo.html 

------------------

Giáo sư AMING TU

Giáo sư Aming Tu (杜正民 - Đỗ Chính Dân, Du Zhengmin) là một sáng lập viên của hội CBETA (Chinese Buddhist Electronic Text Association, Hiệp hội Kinh văn Điện tử Phật giáo Trung Hoa) và đã từng là Giám đốc Điều hành của Hội (1998-2006). Ông là giáo sư Tin học và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong dự án số hóa Tam tạng Kinh điển tiếng Hán. Năm 2005, ông bị bệnh và được chẩn đoán là bị bệnh ung thư gan, phải vào bệnh viện 10 ngày và trải qua một cơn đau đớn rất khắc nghiệt.

Sau khi rời bệnh viện, ông tìm đọc các bản kinh trong Hán tạng và tạng Pali có ghi lại các lời dạy của Đức Phật và các vị đại đệ tử để đối phó với cơn đau, bệnh tật và cái chết. Ông suy ngẫm và thực hành theo đó, và nhờ vậy, đã giúp ông rất nhiều để chịu đựng các cơn đau và viễn ảnh của cái chết không thể tránh được.

Ông thảo luận các vấn đề nầy với tỳ-khưu Anālayo – lúc ấy, Sư đang nghiên cứu và dịch các bản kinh A-hàm. Ông đề nghị Sư khai triển thành một cuốn sách với nội dung về phương cách đối diện với bệnh tật và cái chết, dựa theo các bản kinh của Phật giáo Sơ kỳ – bộ A-hàm trong Hán tạng và Nikāya trong tạng Pāli, cùng với những hướng dẫn thực tế để hành thiền, giúp hành giả có đủ nghị lực, hiểu biết và tỉnh thức để trực diện với các vấn đề tất yếu đó của kiếp người.

Sau khi Sư hoàn tất viết cuốn sách, Gs Tu đọc bản thảo, rất hoan hỷ và viết Lời Bạt, đề cập đến nguyên nhân ra đời của cuốn sách. Cuốn sách được xuất bản vào đầu năm 2017 và được nhiều vị thiền sư, học giả khen ngợi, tán thán. Một điều buồn là Gs Aming Tu không thấy được ấn bản chính thức. Ông qua đời vào tháng 11 năm 2016.

* * *

[ Home ]

01-07-2019