Đàm luận Phật Pháp
- 315 -

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

15. BỐN TÂM PHẠM TRÚ LÚC LÂM CHUNG  

 
1-mucluc15.jpg
1-mucluc15.jpg
1179 * 898
2-caccoi.jpg
2-caccoi.jpg
1243 * 881
3-thegioi.jpg
3-thegioi.jpg
1223 * 800

 

XV

BỐN TÂM PHẠM TRÚ LÚC LÂM CHUNG    
Bhikkhu Anālayo, Mindfully facing disease and death (2017)

XV.1 GIỚI THIỆU

Trong chương này, các nghiên cứu của tôi chuyển từ cách đối phó với nỗi đau buồn về cái chết của những người khác sang các phẩm chất cần có tại thời điểm lúc lâm chung. Trong bài kinh dưới đây, ngài Sāriputta vẫn còn sống và từ bi giảng dạy, hướng dẫn một gia chủ bà-la-môn tên là Dhānañjāni đang lâm trọng bệnh. Đoạn kinh trích dẫn được ghi trong Trung A-hàm (MĀ 27) và bài kinh tương đương trong Trung bộ (MN 97). Trong phần đầu của bài kinh, ngài Sāriputta được báo cho biết về hành vi phi đạo đức của Dhānañjāni, và ngài đã đến gặp ông ta để giảng dạy. Kết quả là ông ta thay đổi các hành vi, trở nên tốt hơn

Đoạn kinh được trích dịch trong chương này ghi lại trong phần tiếp theo về sau, khi Dhānañjāni bị bệnh nặng và nằm trên giường chờ chết. Khi được báo cho biết về tình trạng ấy, ngài Sāriputta đến thăm ông ta và có những lời khuyên dạy. Qua các lời giảng dạy ấy, ông Dhānañjāni đang hấp hối được ngài hướng dẫn đi qua một loạt các cõi giới sau đây:

• Địa ngục,
• Thú vật,
• Ngạ quỷ
• Loài người,
• Tứ vương thiên,
• Tam thập tam thiên,
• Dạ-ma thiên,
• Đâu-suất-đà thiên,
• Hóa lạc thiên,
• Tha hóa tự tại thiên,
• Phạm thiên.

Sự hiện hữu của chư thiên và các cõi trời đã được thảo luận ở Chương 7, có thể nói rằng đối với người Ấn Độ thời cổ đại, cũng như Đức Phật và các vị đệ tử, những cõi giới này và chúng sinh cư ngụ ở đó được xem là một thực tại. Thừa nhận đây như là một khía cạnh của thế giới quan Ấn Độ thời xưa không có nghĩa là chúng ta cần phải tin vào những cõi giới và thiên chúng ấy để có thể rút tỉa được những lợi ích từ bài kinh có mô tả các điều đó. Trong tư duy của Phật giáo sơ kỳ, thế giới bên ngoài và thế giới bên trong tâm ý của một hành giả được xem có liên hệ mật thiết với nhau, một chuyến du hành trong vũ trụ của Phật giáo sơ kỳ cũng đồng thời là một chuyến du hành qua các trạng thái tâm ý khác nhau của hành giả. Điều này trở nên có ý nghĩa khi ta tiếp cận các mô tả những cõi giới khác nhau trong bài kinh như là để minh họa các trạng thái của tâm ý, miễn là ta không chấp chặt xem cách tiếp cận như thế là cách chính xác và duy nhất khi đọc các mô tả như thế trong kinh văn cổ xưa.

Để đơn giản, ba cõi đầu tiên – địa ngục, thú vật, ngạ quỷ – có thể xem như tiêu biểu cho các hành động và ý nghĩ xấu thấp hơn tiêu chuẩn đạo đức và luân lý của con người. Nhóm cõi giới từ Tứ vương thiên đến Tha hóa tự tại thiên là các cõi trời trong dục giới, theo vũ trụ quan Phật giáo, đó là nơi chúng sinh được hưởng nhiều dục lạc vượt xa hơn những gì loài người có thể trải nghiệm. Nhóm cuối cùng trong danh sách, Phạm thiên, là thuộc về sắc giới, nơi đó các cảm xúc dục lạc ít nhất là tạm thời bị bỏ lại, tương ứng với kinh nghiệm thể nhập thiền định.

XV.2 THẢO LUẬN

Sau đoạn kinh nói về cái chết của Dhānañjāni, bài kinh trong Trung A-hàm và Trung bộ tiếp tục khi Đức Phật biết tin như thế, đã nói với ngài Sāriputta rằng nếu được tiếp tục hướng dẫn, ông Dhānañjāni có khả năng tái sinh về những cõi cao hơn. Hiển nhiên là ngài Sāriputta đã không nhận ra điều này và do đó chỉ hướng dẫn ông ta đến cõi Phạm thiên mà bà-la-môn Dhānañjāni ước muốn cũng như nhiều người bà-la-môn khác. Điều này phản ánh một thái độ cơ bản là tôn trọng các ý muốn và khuynh hướng của bệnh nhân và cố gắng đáp ứng trong khả năng tốt nhất của mình.

Nhận xét của Đức Phật có thể hiểu là Ngài khuyên chúng ta nên cẩn thận, không đánh giá thấp khả năng tâm linh của một người bệnh đang hấp hối. Ngài Sāriputta đã quen biết Dhānañjāni từ lâu và có lẽ vì lý do này ngài đã không nhận thức đầy đủ mức độ tiến bộ nơi tâm ý của người bà-la-môn ấy trong những giây phút cận kề cái chết, có thể có khả năng chứng đạt cao hơn. Mặc dù ngài Sāriputta không tận dụng tối đa cơ hội này, cũng cần nên ghi nhớ rằng nếu không có sự hướng dẫn của ngài, có lẽ bà-la-môn Dhānañjāni sẽ không thể tái sinh vào cõi Phạm thiên cao sang.

Phương cách thực sự để ông ta tái sinh vào cõi ấy là tu luyện bốn tâm vô lượng, gọi là bốn Phạm trú. Đó là tâm từ, bi, hỷ, xả đã được trình bày ngắn gọn trong Chương 4. Trong những cuốn sách khác, tôi có giải thích về phương cách thực hành để tỏa rộng bốn tâm Phạm trú này. Ý nghĩa đặc biệt trong nội dung của chương này là điều kiện thiêng liêng của tâm ý đạt đến khi an trú vào bốn tâm vô lượng. Dù tin hay không tin vào sự hiện hữu của các cõi trời, như mô tả trong vũ trụ quan Phật giáo, điều quan trọng là học tập cách thức nuôi dưỡng tâm ý sao cho thiên đường trên trái đất được thể hiện bên trong nội tâm. Những thiên đường trên trái đất như thế hiện hữu khi hành giả vượt qua và bỏ lại các cảm giác dục lạc không tương thích với những cảm thọ như mô tả trong cõi Phạm thiên. Sau khi rời bỏ các cảm giác dục lạc, bây giờ hành giả tiến lên thiên đường đơn giản là bằng cách an trú tâm trong bốn trạng thái siêu phàm, vô biên, không giới hạn.

Câu chuyện về bà-la-môn Dhānañjāni cho thấy trên nguyên tắc, tu dưỡng bốn tâm vô lượng như thế là điều khả thi ngay cả khi lâm trọng bệnh và chịu đau đớn cùng cực. Đối mặt với cơn đau của cái chết như thế là một cách tiếp cận mạnh mẽ để tu dưỡng tâm xả ly. Điều đó có kết quả là tâm trí đạt được một mức độ tự do đưa hành giả ít nhất là tạm thời vượt qua sự dính mắc vào các dục lạc và mệnh chung trong trạng thái thực sự thiêng liêng cao quý. Tuy nhiên, hoàn toàn giải thoát khỏi mọi chấp trước đòi hỏi phải có tu tập tuệ quán. Tác động của tuệ quán lúc lâm chung sẽ tiếp tục là đề tài trong các chương tiếp theo.

* * *

 

Trung A-hàm, MĀ 27
Kinh PHẠM CHÍ ĐÀ-NHIÊN
Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản Anh dịch của Tỳ-khưu Anālayo

Trích đoạn:

(…)
(Một vị tỳ-khưu đến gặp Tôn giả Sāriputta và thưa):

“Bạch Tôn giả Xá-lợi-phất (Sāriputta), bà-la-môn Đà-nhiên (Dhānañjāni) thường đến thăm viếng Đức Phật và mong muốn được nghe pháp; nhưng nay không được khỏe mạnh, khí lực dần dần suy yếu. Hiện giờ bà-la-môn Đà-nhiên mang tật bệnh rất khốn khổ, rất nguy hiểm, do đó có thể mệnh chung”.

Tôn giả Xá-lợi-phất nghe xong lời ấy, liền xếp y ôm bát rời Nam sơn ra đi, đến thành Vương Xá (Rājagaha), trú ở Trúc lâm (Veluvana), vườn Ca-lan-đa (Kalandakanivāpa, vườn các con sóc). Bấy giờ đêm đã qua, vào lúc sáng sớm, Tôn giả Xá-lợi-phất khoác y, ôm bát đi đến nhà bà-la-môn Đà-nhiên. Bà-la-môn Đà-nhiên từ xa trông thấy Tôn giả Xá-lợi-phất đi đến, muốn rời giường đứng dậy. Tôn giả Xá-lợi-phất thấy bà-la-môn Đà-nhiên muốn rời giường đứng dậy, liền ngăn ông ấy rằng: “Này bà-la-môn Đà-nhiên, ông cứ nằm, đừng đứng dậy. Đã có giường khác đây, rồi tôi sẽ ngồi riêng”.

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất ngồi xuống giường ấy. Sau khi ngồi, nói rằng: “Hôm nay bệnh tình của ông ra sao? Ăn uống được nhiều hay ít? Cơn đau giảm dần, không đến nỗi tăng thêm chăng?”

Đà-nhiên trả lời: “Bệnh tình con rất là khốn đốn, ăn uống chẳng được gì cả; đau đớn chỉ tăng thêm mà không thấy giảm bớt. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, giống như người lực sĩ lấy con dao bén nhọn chẻ vào đầu, chỉ sinh thêm khốn khổ quá mức. Đầu con hôm nay cũng nhức nhối giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng như lực sĩ lấy sợi dây thừng quấn chặt chung quanh đầu, chỉ sinh thêm khốn khổ quá mức. Đầu con hôm nay cũng nhức nhối giống như vậy.

Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng như người mổ bò, lấy con dao bén mổ bụng bò, chỉ sinh thêm đau đớn quá mức. Bụng con hôm nay cũng quặn đau giống như vậy. Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, cũng như hai lực sĩ bắt một người ốm yếu đem nướng trên ngọn lửa, chỉ sinh thêm đau khổ đến cùng cực. Thân thể con hôm nay đau đớn như thế, khổ sở sinh ra trên cả thân xác, chỉ tăng thêm mà không giảm bớt.”

Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi: “Này Đà-nhiên, bây giờ tôi hỏi ông, tùy sự hiểu biết mà ông trả lời. Này bà-la-môn Đà-nhiên, địa ngục và súc sinh, nơi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Súc sinh tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, súc sinh và ngạ quỷ, loài nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Ngạ quỷ tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, ngạ quỷ và loài người, loài nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời:
“Loài người tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, cõi người và Tứ vương thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Tứ vương thiên tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, Tứ vương thiên và Tam thập tam thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?
Đà-nhiên trả lời: “Tam thập tam thiên tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Tam thập tam thiên với Diệm-ma thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Diệm-ma thiên tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, Diệm-ma thiên với Đâu-suất-đà thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Đâu-suất-đà thiên tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, Đâu-suất-đà thiên với Hóa lạc thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Hóa lạc thiên tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, Hóa lạc thiên với Tha hóa tự tại thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Tha hóa lạc thiên tốt đẹp hơn.”

Tôn giả lại hỏi: “Này Đà-nhiên, Tha hóa tự tại thiên với Phạm thiên, cõi nào tốt đẹp hơn?” Đà-nhiên trả lời: “Phạm thiên là tốt đẹp hơn cả. Phạm thiên là tối thắng.”

Tôn giả Xá-lợi-phất nói rằng: “Này Đà-nhiên, Đức Thế Tôn là bậc tri kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có nói về bốn Phạm trú. Nếu một thiện gia nam tử hay một thiện gia nữ tử nào tu tập bốn Phạm trú ấy, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, khi thân hoại mạng chung sẽ sinh lên cõi Phạm thiên. Những gì là bốn?

“Này Đà-nhiên, vị thánh đệ tử đa văn có tâm câu hữu với từ, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với phương thứ hai, thứ ba, thứ tư, cả bốn phương, thượng và hạ, thấu khắp tất cả. Với tâm câu hữu với từ, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.

“Vị thánh đệ tử đa văn có tâm câu hữu với bi, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với phương thứ hai, thứ ba, thứ tư, cả bốn phương, thượng và hạ, thấu khắp tất cả. Với tâm câu hữu với bi, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.

“Vị thánh đệ tử đa văn có tâm câu hữu với hỷ, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với phương thứ hai, thứ ba, thứ tư, cả bốn phương, thượng và hạ, thấu khắp tất cả. Với tâm câu hữu với hỷ, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.

“Vị thánh đệ tử đa văn có tâm câu hữu với xả, biến mãn một phương, thành tựu và an trụ. Cũng vậy, với phương thứ hai, thứ ba, thứ tư, cả bốn phương, thượng và hạ, thấu khắp tất cả. Với tâm câu hữu với từ, không kết, không oán, không sân hận, không não hại, bao la, quảng đại, vô lượng, khéo tu tập, biến mãn khắp tất cả thế gian, thành tựu và an trụ.

“Này Đà-nhiên, đó là Đức Thế Tôn là bậc tri kiến, là Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, có nói về bốn Phạm trú. Nếu một thiện gia nam tử hay một thiện gia nữ tử nào tu tập bốn Phạm trú ấy, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, khi thân hoại mạng chung sẽ sinh lên cõi Phạm thiên”.

Sau khi giáo hóa cho Đà-nhiên về pháp tái sinh vào cõi Phạm thiên, Tôn giả Xá-lợi-phất từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Tôn giả Xá-lợi-phất rời khỏi thành Vương Xá, chưa đến Trúc lâm, vườn Ca-lan-đa, đang trên nửa đường ấy, bà-la-môn Đà-nhiên do tu tập bốn Phạm trú, đoạn dục, xả niệm tưởng về dục, thân hoại mệnh chung sinh lên cõi Phạm thiên.

(…)


Trung bộ, MN 97
Kinh DHĀNAÑJĀNI
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản Anh dịch của Tỳ-khưu Ñaṇamoli và Tỳ-khưu Bodhi

Trích đoạn:

(…)
(Thị giả của bà-la-môn Dhānañjāni đến gặp Tôn giả Sāriputta và thưa):

“Thưa Tôn giả, bà-la-môn Dhānañjāni bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, cúi đầu đảnh lễ Tôn giả Sāriputta. Lành thay nếu Tôn giả Sāriputta vì lòng từ bi thương xót, đi đến trú xá của bà-la-môn Dhānañjāni.” Tôn giả Sāriputta im lặng nhận lời.

Rồi Tôn giả Sāriputta đắp y, cầm y bát đi đến trú xá của bà-la-môn Dhānañjāni, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Tôn giả Sāriputta nói với bà-la-môn Dhānañjāni: “Này Dhānañjāni, ta mong ông có thể kham nhẫn; ta mong ông có thể chịu đựng; ta mong khổ thọ được giảm thiểu, không gia tăng, và sự giảm thiểu được thấy rõ rệt, không gia tăng.”

“Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không thể kham nhẫn, tôi không thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, và sự gia tăng được thấy rõ rệt, không giảm thiểu. Ví như một lực sĩ chém đầu một người khác với thanh kiếm sắc bén; cũng vậy, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không thể kham nhẫn, tôi không thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, và sự gia tăng được thấy rõ rệt, không giảm thiểu.

“Ví như một lực sĩ lấy sợi dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi siết chặt; cũng vậy, tôi cảm thấy đau đầu kinh khủng. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không thể kham nhẫn, tôi không thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, và sự gia tăng được thấy rõ rệt, không giảm thiểu.

“Ví như người đồ tể thiện xảo hay đệ tử của người đồ tể cắt ngang bụng con bò với con dao cắt sắc bén; cũng vậy, một ngọn gió kinh khủng cắt ngang bụng của tôi. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không thể kham nhẫn, tôi không thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, và sự gia tăng được thấy rõ rệt, không giảm thiểu.

“Ví như hai lực sĩ, sau khi nắm cánh tay của một người yếu hơn, nướng người ấy, đốt người ấy trên một hố than hừng; cũng vậy, một sức nóng kinh khủng khởi lên trong thân tôi. Thưa Tôn giả Sāriputta, tôi không thể kham nhẫn, tôi không thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng, không có giảm thiểu, và sự gia tăng được thấy rõ rệt, không giảm thiểu.”

“Này Dhānañjāni, địa ngục hay cõi thú, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, cõi thú tốt hơn địa ngục.”

“Này Dhānañjāni, cõi thú hay cảnh giới ngạ quỷ, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, cảnh ngạ quỷ tốt hơn cõi thú.”

“Này Dhānañjāni, cảnh giới ngạ quỷ hay cõi người, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, cõi người tốt hơn cảnh giới ngạ quỷ.”

“Này Dhānañjāni, cõi người hay Tứ thiên vương thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Tứ thiên vương thiên tốt hơn cõi người.”

“Này Dhānañjāni, Tứ thiên vương thiên hay Tam thập tam thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Tam thập tam thiên tốt hơn Tứ thiên vương thiên.”

“Này Dhānañjāni, Tam thập tam thiên hay Dạ-ma thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Dạ-ma thiên tốt hơn Tam thập tam thiên.”

“Này Dhānañjāni, Dạ-ma thiên hay Ðâu-suất-đà thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Ðâu-suất-đà thiên tốt hơn Dạ-ma thiên.”

“Này Dhānañjāni, Ðâu-suất-đà thiên hay Hóa lạc thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Hóa lạc thiên tốt hơn Ðâu-suất-đà thiên.”

“Này Dhānañjāni, Hóa lạc thiên hay Tha hóa tự tại thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Tha hóa tự tại thiên tốt hơn Hóa lạc thiên.”

“Này Dhānañjāni, Tha hóa tự tại thiên hay Phạm thiên, chỗ nào tốt hơn?” – “Thưa Tôn giả Sāriputta, Tôn giả đã từng nói đã nói ‘Phạm thiên.’ Tôn giả Sāriputta đã từng nói: ‘Phạm thiên.’”

Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ: “Các vị bà-la-môn này rất ái luyến cõi giới Phạm thiên. Vậy ta sẽ thuyết giảng cho bà-la-môn Dhānañjāni về con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.” Rồi Tôn giả nói: “Này Dhānañjāni, ta sẽ thuyết giảng cho ông về con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên. Hãy nghe khéo tác ý, ta sẽ giảng.”

“Thưa vâng,” bà-la-môn Dhānañjāni trả lời.

Tôn giả Sāriputta thuyết như sau:

“Này Dhānañjāni, thế nào là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên? Ở đây, vị tỳ-khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhānañjāni, như vậy là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

“Lại nữa, vị tỳ-khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhānañjāni, như vậy là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

“Lại nữa, vị tỳ-khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhānañjāni, như vậy là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.

“Lại nữa, vị tỳ-khưu an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,. Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Này Dhānañjāni, như vậy là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.”

Rồi Tôn giả Sāriputta, dù có những cõi giới cao hơn cần phải chứng, sau khi an trú bà-la-môn vào cõi Phạm thiên, từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi. Bà-la-môn Dhānañjāni, sau khi Tôn giả Sāriputta ra đi không bao lâu, liền mệnh chung và được sinh lên cõi giới Phạm thiên.

(…)

* * ** * *

 

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

Bhikkhu Analayo (2017). Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts.

MỤC LỤC TỔNG QUÁT

Dẫn nhập

BỆNH TẬT

Chương 01 - Đức Phật như là một vị y sĩ vô thượng
Chương 02 - Thân bệnh, tâm an
Chương 03 - Mũi tên của đau khổ
Chương 04 - Phẩm chất của bệnh nhân và người chăm sóc
Chương 05 - Tiềm năng chữa bệnh của các chi phần giác ngộ
Chương 06 - Giảm thiểu cơn đau trong tỉnh thức
Chương 07 - Chịu đựng cơn đau trong tỉnh thức
Chương 08 - Tỉnh thức đối mặt bệnh tật
Chương 09 - Không sợ hãi khi bị bệnh
Chương 10 - Liều thuốc nội quán
Chương 11 - Những lời dạy giải thoát từ một bệnh nhân
Chương 12 - Chương trình hành thiền chữa bệnh

CÁI CHẾT

Chương 13 - Chết là điều tất nhiên
Chương 14 - Tự do tỉnh thức không buồn rầu
Chương 15 - Cận tử và các phạm trú
Chương 16 - Các hướng dẫn trước khi chết
Chương 17 - Không chấp thủ và bệnh bất trị mạt kỳ
Chương 18 - Lời khuyên về chăm sóc thoa dịu
Chương 19 - Chết trong tỉnh thức
Chương 20 - Tiềm năng giải thoát của cái chết
Chương 21 - Sức mạnh của nội quán lúc cận tử
Chương 22 - Những lời cuối của một đệ tử cư sĩ thành đạt
Chương 23 - Trạng thái thiền của Đức Phật khi nhập diệt
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

Kết luận và các hướng dẫn hành thiền

Dẫn nhập
Các hướng dẫn hành thiền cho ngài Girimānanda
(1) Quán vô thường
(2) Quán vô ngã
(3) Quán bất tịnh
(4) Quán nguy hại
(5) Quán từ bỏ
(6) Quán xả ly
(7) Quán diệt tận
(8) Quán không tham luyến vào toàn thế giới
(9) Quán các hành là vô thường
(10) Quán hơi thở

 


CÁC CHỦ ĐỀ GIÁO THUYẾT TRONG MỖI CHƯƠNG

Chương 01 - Tứ thánh đế và Bát chi thánh đạo, danh hiệu của Như Lai
Chương 02 - Năm uẩn chấp thủ, vị ngọt và nguy hại
Chương 03 - Bảy khuynh hướng ngủ ngầm và ba loại cảm thọ
Chương 04 - Bốn phạm trú
Chương 05 - Năm triền cái, bảy chi phần giác ngộ và cách tu dưỡng
Chương 06 - Bốn pháp lập niệm, pháp nhãn, và đạt thiền diệt
Chương 07 - Tầm quan trọng của chư thiên
Chương 08 - Bốn cấp bậc giác ngộ, năm hạ phần kiết sử, và tam vô lậu học
Chương 09 - Bốn chi phần Dự Lưu và ngũ giới
Chương 10 - Hai mươi loại thân kiến và ba lậu hoặc
Chương 11 - Vô ngã và sự khác biệt giữa Dự Lưu và giác ngộ hoàn toàn
Chương 12 - Bốn tưởng điên đảo

Chương 13 - Phật Độc Giác và mười lực, bốn pháp vô sở úy của Như Lai
Chương 14 - Năm vô lậu học và ba mươi bảy chi phần đưa đến giác ngộ
Chương 15 - Vai trò các cõi trời
Chương 16 - Tam Bảo và đường đến quả Dự Lưu
Chương 17 - Ba tướng và bốn loại thức ăn
Chương 18 - Tinh luyện tiệm tiến của hạnh phúc
Chương 19 - Duyên sinh
Chương 20 - Chánh kiến lúc cận tử
Chương 21 - Sáu căn
Chương 22 - Tầm quan trọng của Chuyển Luân Vương
Chương 23 - Bốn tầng thiền hữu sắc và bốn tầng thiền vô sắc
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

* * *

 

Bhikkhu ANALAYO (1962-)
Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg, Germany

Tỳ-khưu Analayo sinh năm 1962 tại Đức. Sư xuất gia gieo duyên năm 1990 tại chùa Wat Suan Mokkh ở miền nam Thái Lan. Năm 1994, Sư đến Sri Lanka xuất gia với ngài Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, và sau đó thọ giới tỳ-khưu với Hòa thượng Pemasiri vào năm 2007 trong hệ phái Shwegyin Nikaya (bắt nguồn từ hệ phái chính Amarapura Nikaya). Tuy nhiên, Bhikkhu Bodhi là vị thầy chính.

Sư hoàn tất chương trình tiến sĩ tại University of Peradeniya năm 2000 và luận án tiến sĩ được xuất bảm thành sách với tựa đề “Satipaṭṭhāna, the Direct Path to Realization”. Cuốn sách được nhiều người khen ngợi, đã được tái bản nhiều lần và dịch sang 10 thứ tiếng. Bản tiếng Việt được Cư sĩ Nguyễn Văn Ngân dịch, với tựa đề “Satipaṭṭhāna, Con đường thẳng tới giác ngộ”, xuất bản năm 2017.

Hiện nay, Sư là giáo sư Phật học tại Trung tâm Phật học của Đại học Hamburg, Đức quốc (Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg), Đại học Phật giáo Pháp Cổ, Đài Loan (Dharma Drum Buddhist College, Taiwan). Sư là đồng sáng lập viên Nhóm Nghiên cứu A-hàm (Āgama Research Group) và là giảng sư của Trung tâm Phật học Barre, Hoa Kỳ (Barre Center for Buddhist Studies).

Hiện nay (2018), ngài trú và tịnh tu tại Trung tâm Phật học Barre, bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Các nguồn thông tin:

1) Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Bhikkhu_Analayo 
2) University of Hamburg: https://www.buddhismuskunde.uni-hamburg.de/en/personen/analayo.html 

------------------

Giáo sư AMING TU

Giáo sư Aming Tu (杜正民 - Đỗ Chính Dân, Du Zhengmin) là một sáng lập viên của hội CBETA (Chinese Buddhist Electronic Text Association, Hiệp hội Kinh văn Điện tử Phật giáo Trung Hoa) và đã từng là Giám đốc Điều hành của Hội (1998-2006). Ông là giáo sư Tin học và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong dự án số hóa Tam tạng Kinh điển tiếng Hán. Năm 2005, ông bị bệnh và được chẩn đoán là bị bệnh ung thư gan, phải vào bệnh viện 10 ngày và trải qua một cơn đau đớn rất khắc nghiệt.

Sau khi rời bệnh viện, ông tìm đọc các bản kinh trong Hán tạng và tạng Pali có ghi lại các lời dạy của Đức Phật và các vị đại đệ tử để đối phó với cơn đau, bệnh tật và cái chết. Ông suy ngẫm và thực hành theo đó, và nhờ vậy, đã giúp ông rất nhiều để chịu đựng các cơn đau và viễn ảnh của cái chết không thể tránh được.

Ông thảo luận các vấn đề nầy với tỳ-khưu Anālayo – lúc ấy, Sư đang nghiên cứu và dịch các bản kinh A-hàm. Ông đề nghị Sư khai triển thành một cuốn sách với nội dung về phương cách đối diện với bệnh tật và cái chết, dựa theo các bản kinh của Phật giáo Sơ kỳ – bộ A-hàm trong Hán tạng và Nikāya trong tạng Pāli, cùng với những hướng dẫn thực tế để hành thiền, giúp hành giả có đủ nghị lực, hiểu biết và tỉnh thức để trực diện với các vấn đề tất yếu đó của kiếp người.

Sau khi Sư hoàn tất viết cuốn sách, Gs Tu đọc bản thảo, rất hoan hỷ và viết Lời Bạt, đề cập đến nguyên nhân ra đời của cuốn sách. Cuốn sách được xuất bản vào đầu năm 2017 và được nhiều vị thiền sư, học giả khen ngợi, tán thán. Một điều buồn là Gs Aming Tu không thấy được ấn bản chính thức. Ông qua đời vào tháng 11 năm 2016.

* * *

[ Home ]

27-05-2019