Đàm luận Phật Pháp
- 310 -

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

10. LIỀU THUỐC CỦA MINH QUÁN  

 
1-mucluc_10.jpg
1-mucluc_10.jpg
1179 * 898
2-3kinh.jpg
2-3kinh.jpg
1231 * 813
3-vongatuong.jpg
3-vongatuong.jpg
1177 * 863
4-5thuuan.jpg
4-5thuuan.jpg
1260 * 821
5-daukho.jpg
5-daukho.jpg
1244 * 838

 

X

LIỀU THUỐC CỦA MINH QUÁN
Bhikkhu Anālayo, Mindfully facing disease and death (2017)

X.1 GIỚI THIỆU

Bài kinh trong chương này trình bày thêm một quan kiến về cách đối mặt với bệnh tật, đó là dùng tuệ minh sát. Quan kiến này được trình bày cùng với cảnh báo về sự phụ thuộc thái quá vào kinh nghiệm về định tâm của mỗi hành giả. Khi đánh giá cảnh báo này, cần lưu ý rằng trong tư duy của Phật giáo Sơ kỳ, việc đạt được các trạng thái định tâm sâu sắc là một phần không thể thiếu của con đường giải thoát và vì lý do này tu tập định có vị trí thứ hai trong tam vô lậu học (giới-định-tuệ), bên cạnh đức hạnh và trí tuệ. Do đó, điểm chính yếu được đưa ra trong bài kinh không phải là để hoàn toàn từ bỏ việc định tâm. Đó là một sự hiểu lầm đáng tiếc. Vấn đề ở đây là để chỉ các giới hạn của việc đắc định nếu không được bổ sung và làm viên mãn qua tu tập phát triển tuệ quán. Điều này đặc biệt áp dụng khi phải đối phó với bệnh tật.

Bài kinh được dịch trong chương này được trích từ Tạp A-hàm (SĀ 1024, kinh A-thấp-ba-thệ) và bài kinh tương đương trong Tương ưng bộ (SN 22.88, kinh Assaji). Nhân vật chính của bài kinh là một vị tu sĩ tên là Assaji, có lẽ khác với Trưởng lão Assaji – một trong năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Vị tu sĩ chăm sóc ông Assaji có tên là Puṇṇiya (Phú-lân-ni). Tương tự như Tỳ-khưu Assaji trong bài kinh, Tỳ-khưu Puṇṇiya cũng không phải là vị đệ tử nổi bật trong các kinh nguyên thủy, vì vậy dường như không có thông tin bổ sung nào về hai vị tỳ-khưu này.

X.2 THẢO LUẬN

Cuộc gặp gỡ thực sự giữa Đức Phật và Tỳ-khưu Assaji đang bệnh bắt đầu bằng lúc ông cố gắng ngồi dậy khi thấy Đức Phật đến. Đây là một việc làm tiêu chuẩn trong những tình huống như vậy, theo đó người bệnh bày tỏ sự tôn trọng và cảm kích rằng Đức Phật đã đích thân đến thăm. Phản ứng thông thường của Đức Phật hoặc vị các tu sĩ nổi tiếng khác khi đến thăm người bệnh là bày tỏ lòng từ bi bằng cách nói với bệnh nhân cứ nằm yên ở đó, ngăn họ không cần phải có hành động tôn kính theo cách thức có thể gây bất lợi cho tình trạng bệnh tật của họ. Điều này thể hiện một thái độ trong đó mối quan tâm từ bi đối với những người đang đau khổ được ưu tiên hơn các khía cạnh nhỏ nhặt của hành vi bên ngoài.

Trong bài kinh, Đức Phật bắt đầu cuộc trò chuyện bằng cách hỏi xem liệu Tỳ-khưu Assaji có thể chịu đựng được các cơn đau không. Điều này trực tiếp nhắm đến một vấn đề chính của bệnh tật, cụ thể là đang chịu đựng cơn đau. Trong bài kinh ở Chương 3, câu chuyện xoay quanh về mũi tên của nỗi đau thể xác và tiềm năng của nó dẫn đến mũi tên khác của nỗi đau tinh thần. Các bài kinh ở Chương 6, 7 và 8, câu hỏi tương tự cũng là về khả năng chịu đựng nỗi đau của bệnh nhân, điều lý tưởng nhất là phải có chánh niệm.

Sau khi nghe trình bày về mức độ nghiêm trọng của căn bệnh, câu hỏi tiếp theo của Đức Phật là liệu ông Assaji có trải qua sự hối tiếc nào không. Khi biết rằng ông ấy thừa nhận đã có vài hối hận, Đức Phật chuyển sang hỏi về vấn đề vi phạm giới đức. Đây rõ ràng là một vấn đề phải được đưa ra. Gánh nặng vi phạm giới đức có thể trở nên nặng nề vào thời điểm bị bệnh, và thậm chí còn nhiều hơn vào lúc chết. Như đã thảo luận trong chương trước, việc duy trì giới đức cung cấp một nguồn lực không sợ hãi. Tỳ-khưu Assaji trình bày rõ thêm rằng điều này áp dụng cho trường hợp của mình; ông không bị gánh nặng bởi hành vi sai trái đạo đức.

Tiếp theo, bài kinh đề cập đến vấn đề chấp trước vào các trải nghiệm của tâm định. Thay vì chạy theo sự chấp trước đó, bệnh nhân cần phải tránh đồng hóa tự ngã với các trải nghiệm đó. Giảm thiểu sự đồng hóa này này không chỉ là cách tiếp cận đúng đắn đối với bệnh tật, mà còn là cách để hoàn toàn có sức khỏe tinh thần thông qua sự giác ngộ. Khác với bài kinh trong Tạp A-hàm, bài kinh trong Tương ưng bộ không ghi Tỳ-khưu Assaji đã hoàn toàn giác ngộ và đã phục hồi sức khỏe, nhưng thông điệp cơ bản trong hai bài kinh vẫn giống nhau. Từ bỏ tất cả các nhận dạng về tự ngã và chấp trước là chìa khóa cho bình an và an định thực sự, không còn có nguy cơ bị lầm lạc nữa.

Bài kinh đề cập đến chủ đề cần phải dứt bỏ tất cả các ý niệm nhận dạng về ngã. Đây là cách tiếp cận tiêu chuẩn trong các bài kinh nguyên thủy, áp dụng mô hình sau đây cho mỗi uẩn trong năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, các hành và thức:

• xem uẩn là ngã,
• xem uẩn là khác biệt với ngã,
• xem uẩn ở trong ngã,
• xem ngã ở trong uẩn.

Mô hình bốn ý niệm này, khi được áp dụng cho mỗi uẩn trong năm uẩn, dẫn đến hai mươi loại “thân kiến” (sakkāyadiṭṭhi) – cái nhìn về tự ngã. Quan điểm về tự ngã như vậy – một dạng thái tin vào một bản thân ngã có thật và thường hằng, là một trong những sợi dây trói buộc (kiết sử) cần cắt bỏ để nhập dòng giải thoát. Trải nghiệm về Niết-bàn khi đắc quả Dự Lưu là một phần của trải nghiệm trực tiếp mà hành giả thật sự nhận biết không có một bản ngã vĩnh viễn nào có thể tồn tại ở bất cứ đâu. Điều này đơn thuần là do hành giả có một trải nghiệm hoàn toàn không có bất kỳ tham chiếu nào về bản ngã hoặc bất cứ cái gì có thể được xác định là bản ngã. Mặc dù ngay thời điểm ấy, hành giả không còn bám chấp quan kiến có một bản ngã hiện hữu, nhưng nhiệm vụ thực chứng vô ngã vẫn chưa được hoàn thành, vì kiết sử mạn và cảm nhận về bản ngã (kiết sử vô minh) vẫn còn tồn tại. Những kiết sử này chỉ được cắt bỏ khi hành giả hoàn toàn giác ngộ, đắc quả A-la-hán. Đây là chủ đề sẽ được trình bày trong chương tiếp theo.

Sự tự do của tâm trí có được khi hoàn toàn thực chứng giác ngộ ngụ ý rằng các lậu hoặc (āsava) đã bị trừ diệt vĩnh viễn. Những lậu hoặc ấy gây ảnh hưởng đến tri giác và phản ứng của phàm nhân, và từ đó sai khiến họ hành động theo những cách bất thiện và có hại. Trong tư duy Phật giáo Sơ kỳ, có ba loại lậu hoặc:

• dục lậu,
• hữu lậu,
• vô minh lậu.

Đôi khi lậu hoặc thứ tư cũng được thêm vào, đó là kiến lậu. Việc xóa bỏ hoàn toàn tất cả các lậu hoặc là điểm quy chiếu tiêu chuẩn trong các bài kinh nguyên thủy để xác định sự giác ngộ hoàn toàn, mà theo Phật giáo Sơ kỳ, một hành giả phải tu tập hoàn mãn khi hướng đến đời sống thánh thiện, đó là đời sống độc thân của một tu sĩ Phật giáo. Để đạt đến sự hoàn mãn của đời sống thánh thiện này, sự định tâm có vai trò hỗ trợ quan trọng. Tuy nhiên, việc nuôi dưỡng tâm định có những hạn chế tiềm tàng, như được nhấn mạnh trong bài kinh. Kinh nghiệm định tâm có thể đưa đến sự hài lòng, thậm chí phấn khởi. Vì tất cả những trải nghiệm như vậy là vô thường và sẽ thay đổi, bám thủ vào đó và đồng hóa bản ngã vào đó sớm muộn sẽ dẫn đến nỗi thất vọng và lo sợ. Vì thế, tốt nhất là phát triển tâm định kết hợp với trí tuệ, nhờ đó, hoạt động như một khía cạnh của tam vô lậu học mà không làm lu mờ các khía cạnh khác, tránh được trường hợp xây dựng cho ý thức về bản ngã, rõ ràng là trường hợp của Tỳ-khưu Assaji.

Trong điều kiện thực tế, thông điệp chính yếu từ bài kinh tại là tiềm năng của việc không xác định bản ngã. Tỳ-khưu Assaji đã đồng hóa bản ngã với sự đắc định của mình, điều này đã khiến ông trở nên kích động khi lâm bệnh nặng. Mặc dù ông đã thoát khỏi gánh nặng hối hận vì những vi phạm giới đức, ông không thoát khỏi gánh nặng bám thủ vào những kinh nghiệm thiền định của mình. Nhờ liều thuốc của tuệ quán, ông đã có thể buông bỏ gánh nặng không cần thiết đó. Thật thế, trong bài kinh, ông đã có thể buông bỏ mọi gánh nặng không cần thiết ấy bằng cách đạt đến sức khỏe tinh thần tối cao của sự giác ngộ.

Áp dụng cho hoàn cảnh của chúng ta, thời gian bị bệnh có thể trở thành một cơ hội để nhận thức về bản ngã: Có bất kỳ gánh nặng không cần thiết nào trong hình thức bám thủ, chấp trước mà ta vẫn đeo đuổi và có thể chữa trị với một liều thuốc không nhận dạng bản ngã?

* * *

 

SĀ 1024
A-THẤP-BA-THỆ
Hòa thượng Thích Đức Thắng dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Ānalayo

 

Tôi nghe như vầy. Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ-đà (Jeta), tại nước Xá-vệ (Sāvatthī). Bấy giờ Tôn giả A-thấp-ba-thệ (阿濕波誓, Pāli: Assaji) ở giảng đường Lộc tử mẫu (Mīraga), Đông viên, thân bị bệnh nặng, vô cùng đau khổ. Tôn giả Phú-lân-ni (Puṇṇiya) là vị chăm sóc tôn giả.

Lúc đó Tôn giả A-thấp-ba-thệ nói với Phú-lân-ni: “Thầy đến chỗ Thế Tôn, vì tôi cúi đầu lễ chân Thế Tôn, thưa hỏi Thế Tôn có ít bệnh, ít não, đi ở có nhẹ nhàng, thuận lợi, trú an lạc không? Và bạch với Ngài: ‘Con là A-thấp-ba-thệ ở vườn phía Đông, bị khốn khổ vì tật bệnh, đang nằm liệt giường, muốn gặp Thế Tôn, nhưng con bị khốn khổ vì tật bệnh, khí lực sút kém, không tự đến được. Cúi xin Thế Tôn vì lòng thương xót mà đến Đông viên này.’”

Bấy giờ, Phú-lân-ni nhận lời A-thấp-ba-thệ, đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu lễ sát chân, đứng lui qua một bên, bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả A-thấp-ba-thệ cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, thưa hỏi Thế Tôn có ít bệnh, ít não, đi ở có nhẹ nhàng, thuận lợi, trú an lạc không?” Thế Tôn đáp: “Ta nay được an lạc.”

Tôn giả Phú-lân-ni lại thưa: “Bạch Thế Tôn, Tôn giả A-thấp-ba-thệ ở Đông viên đau nặng nằm liệt giường, muốn gặp Thế Tôn, nhưng sức yếu không thể tự đi đến chỗ Thế Tôn được. Lành thay, xin Thế Tôn thương xót, thỉnh Ngài đến Đông viên.”

Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Tôn giả Phú-lân-ni biết Thế Tôn đã nhận lời, liền đảnh lễ rồi ra về.

Vào buổi chiều, sau khi thiền tịnh, Thế Tôn đến Đông viên, vào tịnh thất Tôn giả A-thấp-ba-thệ. Tôn giả A-thấp-ba-thệ từ xa trông thấy Phật liền muốn gượng dậy. Phật bảo A-thấp-ba-thệ: “Hãy thôi, chớ ngồi dậy.”

Thế Tôn ngồi xuống giường khác, hỏi A-thấp-ba-thệ: “Tâm ông có chịu nổi cái khổ của bệnh này không? Bệnh nơi thân ông tăng hay giảm?”

A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bệnh của con không bớt, thân không được an ổn, các thứ khổ bức bách càng tăng thêm, không kham nổi. Giống như người có nhiều sức mạnh bắt lấy người gầy yếu đuối, dùng dây trói chặt vào đầu cùng hai tay, rồi siết chặt làm cho đau đớn vô cùng. Hiện tại sự thống khổ của con còn hơn cả người kia nữa. Giống như tên đồ tể dùng dao bén mổ bụng bò lấy nội tạng nó ra; đau đớn nơi bụng con bò như thế nào có thể chịu nổi, còn hiện tại đau đớn nơi bụng của con còn hơn cả đau đớn của con bò kia. Như hai lực sĩ bắt một người yếu đuối treo lên trên lửa rồi đốt hai chân họ, hiện tại hai chân của con còn nóng hơn chân người kia. Nỗi đau đớn của bệnh chỉ tăng, không giảm.”

Phật hỏi A-thấp-ba-thệ: “Ông có hối hận điều gì không?” A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, thật sự con có vài điều hối hận.”

Phật bảo A-thấp-ba-thệ: “Ông có phá giới không?” A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, con không có phá giới.”

Phật bảo A-thấp-ba-thệ: “Ông không có phá giới, vì sao lại hối hận?” A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, trước khi con chưa bệnh, con tu tập nhiều, chứng nhập tịnh lạc của thân an chỉ. Tu tập tam-muội nhiều. Còn hôm nay, con lại không nhập tam-muội kia được. Con tự suy nghĩ không lẽ tam-muội này thoái thất chăng?”

Phật bảo A-thấp-ba-thệ: “Nay Ta hỏi ông, tùy ý đáp cho Ta. Này A-thấp-ba-thệ, ông có thấy sắc tức là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau chăng?” A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, không.”

Phật lại hỏi: “Ông có thấy thọ, … tưởng, … hành, … thức là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau chăng?” A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, không.”

Phật bảo A-thấp-ba-thệ: “Ông đã không thấy sắc là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau; không thấy thọ, … tưởng, … hành, … thức là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau, vậy vì sao lại hối hận?”

A-thấp-ba-thệ bạch Phật: “Bạch Thế Tôn, đó là vì con không chánh tư duy.”

Phật bảo A-thấp-ba-thệ:

“Nếu sa-môn, bà-la-môn nào tam-muội kiên cố, tam-muội bình đẳng, mà không nhập được tam-muội kia, thì không nên khởi nghĩ rằng mình thoái thất đối với tam-muội.

“Nếu vị thánh đệ tử nào lại không thấy sắc là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau; không thấy thọ, … tưởng, … hành, … thức là ngã, khác ngã, hoặc ở trong nhau, thì chỉ nên giác tri rằng:

“Tham dục hoàn toàn hết hẳn không còn, sân nhuế hết hẳn không còn, ngu si hết hẳn không còn. Khi tất cả lậu hoặc đã tận trừ, tâm vô lậu được giải thoát bằng trí tuệ, hiện tại tự biết và tác chứng: ‘Đối với ta, sinh đã dứt, phạm hạnh đã thành, những gì cần làm đã làm xong, ta tự biết không còn tái sinh đời sau nữa.’”

Khi nghe Phật thuyết pháp này, Tôn giả A-thấp-ba-thệ không còn chấp thủ, tâm được giải thoát khỏi các lậu hoặc. Tôn giả vui mừng, phấn khởi. Vì tâm được vui mừng, phấn khởi nên thân bệnh liền dứt trừ.

Sau khi Phật nói kinh này làm cho Tôn giả A-thấp-ba-thệ hoan hỷ, tùy hỷ, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, ra về.

--------------------------

SN 22.88
ASSAJI
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch
Bình Anson hiệu đính dựa theo bản dịch tiếng Anh của Bhikkhu Bodhi

 

Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc. Lúc bấy giờ Tôn giả Assaji trú ở vườn Kassapaka, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng.

Rồi Tôn giả Assaji gọi các người thị giả: “Này chư Hiền, hãy đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ Thế Tôn: ‘Tỳ-khưu Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn.’ Rồi thưa như sau: 'Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỳ-khưu Assaji.’”

“Thưa vâng, Hiền giả.” Các tỳ-khưu ấy vâng đáp Tôn giả Assaji, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các tỳ-khưu ấy bạch Thế Tôn: “Tỳ-khưu Assaji, bạch Thế Tôn, bị bệnh đau đớn, trầm trọng, cúi đầu đảnh lễ dưới chân Thế Tôn. Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy đi đến Tỳ-khưu Assaji.” Thế Tôn im lặng nhận lời.

Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Assaji. Tôn giả Assaji thấy Thế Tôn từ xa đi đến liền cố gắng từ nơi giường ngồi dậy. Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji: “Thôi, Assaji! Ông chớ có cố gắng từ giường ngồi dậy! Có chỗ ngồi đã soạn sẵn. Tại chỗ ấy, Ta sẽ ngồi.”

Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Assaji: “Ông có kham nhẫn được không, này Assaji? Ông có chịu đựng được không? Có phải khổ thọ tổn giảm, không tăng trưởng? Có phải có những dấu hiệu thuyên giảm, không có tăng trưởng?”

“Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn! Con không thể chịu đựng! Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không tổn giảm. Có những dấu hiệu tăng trưởng, không thuyên giảm!”

“Này Assaji, ông có phân vân gì, có hối hận gì không?”

“Chắc chắn, bạch Thế Tôn, con có nhiều phân vân, có nhiều hối hận.”

“Này Assaji, ông có điều gì tự trách mình về giới luật hay không?”

“Bạch Thế Tôn, con không có điều gì tự trách mình về giới luật.”

“Này Assaji, nếu ông không có điều gì tự trách mình về giới luật, vì sao ông lại có phân vân gì, có hối hận?”

“Trước đây, bạch Thế Tôn, khi bị bệnh, con cố gắng làm cho an chỉ thân hành, nhưng bây giờ con không chứng được thiền định. Vì không chứng được thiền định, con tự nghĩ: ‘Mong rằng tôi sẽ không thối thất.’”

“Này Assaji, những sa-môn hay bà-la-môn nào cho rằng thiền định là cần thiết và đồng hóa thiền định với pháp tu sa-môn thì khi không chứng được thiền định, họ sẽ nghĩ: ‘Mong rằng chúng tôi sẽ không thối thất.’

“Này Assaji, ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Cái gì vô thường là khổ hay lạc?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?’”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Này Assaji, ông nghĩ thế nào? Thọ là thường hay vô thường? … Tưởng là thường hay vô thường? … Các hành là thường hay vô thường? ... Thức là thường hay vô thường?”

“Là vô thường, bạch Thế Tôn.”

“Cái gì vô thường là khổ hay lạc?”

“Là khổ, bạch Thế Tôn.”

“Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?’”

“Thưa không, bạch Thế Tôn.”

“Do vậy, này Assaji, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’ Phàm thọ gì … Phàm tưởng gì … Phàm các hành gì … Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: ‘Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.’

“Thấy vậy, này Assaji, bậc đa văn thánh đệ tử yếm ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức. Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: ‘Ta đã được giải thoát.’ Vị ấy biết rõ: ‘Sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’

“Khi cảm giác lạc thọ, vị ấy biết rõ: ‘Là vô thường’; vị ấy biết rõ: ‘Là không nên đắm trước’; vị ấy biết rõ: ‘Là không nên hoan hỷ.’ Khi cảm giác khổ thọ, vị ấy biết rõ: ‘Là vô thường’; vị ấy biết rõ: ‘Là không nên đắm trước’; vị ấy biết rõ: ‘Là không nên hoan hỷ.’ Khi cảm giác bất khổ bất lạc khổ, vị ấy biết rõ: ‘Là vô thường’; vị ấy biết rõ: ‘Là không nên đắm trước’; vị ấy biết rõ: ‘Là không nên hoan hỷ.’

“Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ không có hệ lụy.

“Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ chấm dứt với thân, vị ấy biết rõ: ‘Ta cảm giác một cảm thọ chấm dứt với thân.’ Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ chấm dứt với sinh mạng, vị ấy biết rõ: ‘Ta cảm giác một cảm thọ chấm dứt với sinh mạng.’ Vị ấy biết rõ rằng: ‘Khi thân hoại mạng chung, tất cả những gì được cảm thọ, không hoan hỷ trong đó, sẽ trở thành thanh lương ngay tại đây.’

“Ví như, này Assaji, do duyên dầu, do duyên tim bấc, một cây đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc của ngọn đèn ấy đoạn tận, không thêm nhiên liệu, ngọn đèn ấy sẽ tắt. Cũng vậy, này Assaji, khi vị tỳ-khưu cảm giác một cảm thọ chấm dứt với thân, vị ấy biết rõ: ‘Ta cảm giác một cảm thọ chấm dứt với thân.’ Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ chấm dứt với sinh mạng, vị ấy biết rõ: ‘Ta cảm giác một cảm thọ chấm dứt với sinh mạng.’ Vị ấy biết rõ rằng: ‘Khi thân hoại mạng chung, tất cả những gì được cảm thọ, không hoan hỷ trong đó, sẽ trở thành thanh lương ngay tại đây.’”

* * ** * *

 

Tỉnh thức trước bệnh tật và cái chết
Lời Phật dạy trong kinh văn nguyên thủy

Bhikkhu Analayo (2017). Mindfully Facing Disease and Death: Compassionate Advice from Early Buddhist Texts.

MỤC LỤC TỔNG QUÁT

Dẫn nhập

BỆNH TẬT

Chương 01 - Đức Phật như là một vị y sĩ vô thượng
Chương 02 - Thân bệnh, tâm an
Chương 03 - Mũi tên của đau khổ
Chương 04 - Phẩm chất của bệnh nhân và người chăm sóc
Chương 05 - Tiềm năng chữa bệnh của các chi phần giác ngộ
Chương 06 - Giảm thiểu cơn đau trong tỉnh thức
Chương 07 - Chịu đựng cơn đau trong tỉnh thức
Chương 08 - Tỉnh thức đối mặt bệnh tật
Chương 09 - Không sợ hãi khi bị bệnh
Chương 10 - Liều thuốc nội quán
Chương 11 - Những lời dạy giải thoát từ một bệnh nhân
Chương 12 - Chương trình hành thiền chữa bệnh

CÁI CHẾT

Chương 13 - Chết là điều tất nhiên
Chương 14 - Tự do tỉnh thức không buồn rầu
Chương 15 - Cận tử và các phạm trú
Chương 16 - Các hướng dẫn trước khi chết
Chương 17 - Không chấp thủ và bệnh bất trị mạt kỳ
Chương 18 - Lời khuyên về chăm sóc thoa dịu
Chương 19 - Chết trong tỉnh thức
Chương 20 - Tiềm năng giải thoát của cái chết
Chương 21 - Sức mạnh của nội quán lúc cận tử
Chương 22 - Những lời cuối của một đệ tử cư sĩ thành đạt
Chương 23 - Trạng thái thiền của Đức Phật khi nhập diệt
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

Kết luận và các hướng dẫn hành thiền

Dẫn nhập
Các hướng dẫn hành thiền cho ngài Girimānanda
(1) Quán vô thường
(2) Quán vô ngã
(3) Quán bất tịnh
(4) Quán nguy hại
(5) Quán từ bỏ
(6) Quán xả ly
(7) Quán diệt tận
(8) Quán không tham luyến vào toàn thế giới
(9) Quán các hành là vô thường
(10) Quán hơi thở

 


CÁC CHỦ ĐỀ GIÁO THUYẾT TRONG MỖI CHƯƠNG

Chương 01 - Tứ thánh đế và Bát chi thánh đạo, danh hiệu của Như Lai
Chương 02 - Năm uẩn chấp thủ, vị ngọt và nguy hại
Chương 03 - Bảy khuynh hướng ngủ ngầm và ba loại cảm thọ
Chương 04 - Bốn phạm trú
Chương 05 - Năm triền cái, bảy chi phần giác ngộ và cách tu dưỡng
Chương 06 - Bốn pháp lập niệm, pháp nhãn, và đạt thiền diệt
Chương 07 - Tầm quan trọng của chư thiên
Chương 08 - Bốn cấp bậc giác ngộ, năm hạ phần kiết sử, và tam vô lậu học
Chương 09 - Bốn chi phần Dự Lưu và ngũ giới
Chương 10 - Hai mươi loại thân kiến và ba lậu hoặc
Chương 11 - Vô ngã và sự khác biệt giữa Dự Lưu và giác ngộ hoàn toàn
Chương 12 - Bốn tưởng điên đảo

Chương 13 - Phật Độc Giác và mười lực, bốn pháp vô sở úy của Như Lai
Chương 14 - Năm vô lậu học và ba mươi bảy chi phần đưa đến giác ngộ
Chương 15 - Vai trò các cõi trời
Chương 16 - Tam Bảo và đường đến quả Dự Lưu
Chương 17 - Ba tướng và bốn loại thức ăn
Chương 18 - Tinh luyện tiệm tiến của hạnh phúc
Chương 19 - Duyên sinh
Chương 20 - Chánh kiến lúc cận tử
Chương 21 - Sáu căn
Chương 22 - Tầm quan trọng của Chuyển Luân Vương
Chương 23 - Bốn tầng thiền hữu sắc và bốn tầng thiền vô sắc
Chương 24 - Quán tưởng về cái chết

* * *

 

Bhikkhu ANALAYO (1962-)
Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg, Germany

Tỳ-khưu Analayo sinh năm 1962 tại Đức. Sư xuất gia gieo duyên năm 1990 tại chùa Wat Suan Mokkh ở miền nam Thái Lan. Năm 1994, Sư đến Sri Lanka xuất gia với ngài Hòa thượng Balangoda Ananda Maitreya, và sau đó thọ giới tỳ-khưu với Hòa thượng Pemasiri vào năm 2007 trong hệ phái Shwegyin Nikaya (bắt nguồn từ hệ phái chính Amarapura Nikaya). Tuy nhiên, Bhikkhu Bodhi là vị thầy chính.

Sư hoàn tất chương trình tiến sĩ tại University of Peradeniya năm 2000 và luận án tiến sĩ được xuất bảm thành sách với tựa đề “Satipaṭṭhāna, the Direct Path to Realization”. Cuốn sách được nhiều người khen ngợi, đã được tái bản nhiều lần và dịch sang 10 thứ tiếng. Bản tiếng Việt được Cư sĩ Nguyễn Văn Ngân dịch, với tựa đề “Satipaṭṭhāna, Con đường thẳng tới giác ngộ”, xuất bản năm 2017.

Hiện nay, Sư là giáo sư Phật học tại Trung tâm Phật học của Đại học Hamburg, Đức quốc (Centre for Buddhist Studies, University of Hamburg), Đại học Phật giáo Pháp Cổ, Đài Loan (Dharma Drum Buddhist College, Taiwan). Sư là đồng sáng lập viên Nhóm Nghiên cứu A-hàm (Āgama Research Group) và là giảng sư của Trung tâm Phật học Barre, Hoa Kỳ (Barre Center for Buddhist Studies).

Hiện nay (2018), ngài trú và tịnh tu tại Trung tâm Phật học Barre, bang Massachusetts, Hoa Kỳ.

Các nguồn thông tin:

1) Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Bhikkhu_Analayo 
2) University of Hamburg: https://www.buddhismuskunde.uni-hamburg.de/en/personen/analayo.html 

------------------

Giáo sư AMING TU

Giáo sư Aming Tu (杜正民 - Đỗ Chính Dân, Du Zhengmin) là một sáng lập viên của hội CBETA (Chinese Buddhist Electronic Text Association, Hiệp hội Kinh văn Điện tử Phật giáo Trung Hoa) và đã từng là Giám đốc Điều hành của Hội (1998-2006). Ông là giáo sư Tin học và đã có nhiều đóng góp quan trọng trong dự án số hóa Tam tạng Kinh điển tiếng Hán. Năm 2005, ông bị bệnh và được chẩn đoán là bị bệnh ung thư gan, phải vào bệnh viện 10 ngày và trải qua một cơn đau đớn rất khắc nghiệt.

Sau khi rời bệnh viện, ông tìm đọc các bản kinh trong Hán tạng và tạng Pali có ghi lại các lời dạy của Đức Phật và các vị đại đệ tử để đối phó với cơn đau, bệnh tật và cái chết. Ông suy ngẫm và thực hành theo đó, và nhờ vậy, đã giúp ông rất nhiều để chịu đựng các cơn đau và viễn ảnh của cái chết không thể tránh được.

Ông thảo luận các vấn đề nầy với tỳ-khưu Anālayo – lúc ấy, Sư đang nghiên cứu và dịch các bản kinh A-hàm. Ông đề nghị Sư khai triển thành một cuốn sách với nội dung về phương cách đối diện với bệnh tật và cái chết, dựa theo các bản kinh của Phật giáo Sơ kỳ – bộ A-hàm trong Hán tạng và Nikāya trong tạng Pāli, cùng với những hướng dẫn thực tế để hành thiền, giúp hành giả có đủ nghị lực, hiểu biết và tỉnh thức để trực diện với các vấn đề tất yếu đó của kiếp người.

Sau khi Sư hoàn tất viết cuốn sách, Gs Tu đọc bản thảo, rất hoan hỷ và viết Lời Bạt, đề cập đến nguyên nhân ra đời của cuốn sách. Cuốn sách được xuất bản vào đầu năm 2017 và được nhiều vị thiền sư, học giả khen ngợi, tán thán. Một điều buồn là Gs Aming Tu không thấy được ấn bản chính thức. Ông qua đời vào tháng 11 năm 2016.

* * *

[ Home ]

25-03-2019